T02 – Bạch Hóa Huyền Thoại Trọng Thủy Mỵ Châu
T02 – ngày 16.10.2020
Bạch Hóa Huyền Thoại Trọng Thủy Mỵ Châu
Livestream trên Facebook Nỗi Niềm Quê Hương
soạn giả: Hoàng Đức Phương
NHÀ
THỤC VÀ VĂN MINH ÂU LẠCc
Ôn lại bài Lập Quốc và Rồng Tiên
1.
Ngày
thành lập nước Văn Lang có những điểm đã chứng minh, phải ghi nhớ:
a.
Thời
điểm lập nước: 2.879BC – theo thể chế
dân chủ phân quyền của liên bang (15
tiểu bang) để chống nước Ngô được bao bọc bởi con sông Dương Tử Giang và Tây
Giang (vùng Hồ Nam, Thiều Châu và Chiết Giang ngày nay)
b. Cương vực nước Văn Lang: Từ phía nam sông
Tây Giang đến đèo Ải Vân (nay gọi là Hải Vân), gồm Quảng Đông (Lạc Việt), Quảng
Tây (Âu Việt) Vâm Nam (U Việt) xuống tới đèo Hải Vân. Phía
Tây lan tới con sông Cửu Long Giang.
c. Lúc
đó người Văn Lang đã nhắn nhủ con cháu rằng: Khi xã hội phát triển thì cá nhân
xây dựng cộng ồng để bảo vệ hạnh phúc của mình. Muốn cộng đồng vững mạnh thì
con người phải có tinh thần Tự Trọng và
Cầu Tiến. Về sau dân ta gọi đó là Việt
Giáo, nay ta gọi là Canh Tân Con Người…..
Việt Giáo là giáo lý học làm
người Việt… Trong Việt Giáo có hồn dân
Việt. Đó là 3 thông điệp của dân Văn Lang mà chúng ta phải ghi nhớ thì mới
có thể canh tân con người cho ngang tầm thời đại được; còn tụt hậu là tiêu
vong. …Khi bị thống trị thì môn VIỆT
GIÁO bị cấm ngặt.
2. Tiếp
đến là huyền thoại Rồng Tiên khai quốc
nói về tiến trình bảo vệ sự tự chủ; đó là sự tiếp nối của Việt Giáo đương thời
(600BC), thêm vào đó là Việt Đạo và Việt
Triết thì mới đủ sức giữ nước.
a. Việt Giáo thì
được bổ xung băng tinh thần: Tự Lực Tự
Cường và Phục Thiện
b. Việt Đạo là con
đường đi của dân Việt ợc ký thác trong danh từ Đồng Bào.
Ý niệm
của danh từ Đồng Bào là: Kết hợp với nhau bằng Tâm, cư xử với nhau bang Đức,
bình đẳng tột cùng và thân thương tột độ. (NGÔ - VIỆT là anh em ruột)
Lúc
đó chưa có môn khoa học thực dụng nên thiếu bộ môn kinh tế, kỹ thuật và chánh trị. Nay phải thêm 3
môn này thì mới tồn tại được.
Để dễ
nhớ ta gọi là: Canh Tân Đất Nước; và
lẽ dĩ nhiêu phải có đề án hay học thuyết đàng hoàng chứ không thể mạnh ai nấy
làm được.
c. Việt Triết tức
triết lý sống của người Việt là: Đấu tranh để đòi lại những gì dân tộc của
chúng ta đã mất; không hận thù, không xâm lấn, không trả thù. Sống cho xứng
đáng làm người Văn Minh, Thức Thời và Tiến Bộ cùng thời đại
Ngày
hôm nay, môi trường sinh sống có khác cho nên 3 môn Việt Giáo, Việt Đạo và Việt
Triết phải cập nhật cho phù hợp với văn minh điện toán của thời đại.
Ø Thêm vào đó Cha Lạc Long còn chỉ cho đàn
con Học Thuyết Cứu Nước là chớ trông cậy vào người ngoài, hãy tự mình tạo dựng
Việt Lực.
Người
đời sau coi cha Lạc Long là Thần Kim Quy
(rùa vàng) và nhắc nhở nhau rằng: Thần Kim Quy chỉ giúp đàn con trong cơn nguy
nan chứ không giúp đàn con trong khi an bình. Nghĩa là Hồn Thiêng Sông Núi chỉ
phù hộ cho kháng chiến gặp may trong khi đấu tranh giành quyền tự chủ, chứ
không giúp ích lợi cho bất cứ phe nhóm nào cả:
Điển hình là cậu bé Phù Đổng (đại diện của tổ chức kháng chiến),
sau khi dẹp xong giặc thì biến mất. Lê Lợi khi kháng chiến thì được thần trao
kiếm báu, tượng trưng cho uy quyền có Cha Lạc Long phù hộ; đến khi đăng quang
Hoàng Đế ở hồ Lục Thủy thì thần đòi kiếm lại; do đó mới đổi tên thành Hồ Hoàn
Kiếm và câu kết của bài Bình Ngô Đại Cáo có câu:…"Thế là nhờ Trời Đất, tổ-tông khôn-thiêng che-chở, giúp-đỡ cho nước ta vậy".
Nói cách khác: Đảng
Cách mạng thì được sự hỗ trợ của cha Lạc Long, còn một tổ chức chánh trị thì phải
biểu dương khả năng phát triển đất nước của mình. Vì Lãnh Đạo Cách Mạng cần những
yếu tố và khả năng hoàn toàn khác hẳn với Lãnh Đạo Chánh Trị.
Dân ta đã nhầm và cho rằng Đảng Cách Mạng nào thành công thì đảng
đó có quyền Lãnh Đạo Chính Trị. Đó là tư duy Lạc Hồn Dân Việt bắt đầu từ học
thuật của vua Lê Thánh Tôn (1460) theo Tàu là: Đất Của Chúa Lúa của Trời thay
quan niệm Toàn Dân gữi nước chứ không phải Triều Đình giữ nước.
Hai
quan niệm trái ngược này đã được biểu thị bằng 2 lá cờ Nền Vàng của dân Việt và
Nền Đỏ của Thiên Tử; với danh xưng: Dân
tộc kỳ (cờ vàng) và Đế kỳ (cờ đỏ). Màu Vàng là màu của lụa tơ tầm, màu Đỏ là lửa
của mặt trời.
·
Còn màu Đỏ của Cộng Sản là màu máu của kẻ thù giai cấp bị tiêu diệt,
lấy để nhuộm cờ.
Ø Theo
quan niệm của dân nông nghiệp thì: Không phải cứ cách mạng thành công là đảng
Cách Mạng mặc nhiên trở thành Lãnh Tụ Chánh Trị.
Ø Còn
theo quan niệm của dân Du-mục thì đảng Cách Mạng nào thành công thì đảng đó được
độc quyền Lãnh Đạo Chánh Trị cha truyền con nối.
Vì
thế nên Việt Cộng không thể nói là chúng có công đánh Tây đuổi Mỹ (?) là mặc
nhiên chúng làm chủ đất nước được. ..Gia Long cũng vậy, không thể nói là cha
ông của hắn đã mở mang bờ cõi nên mảnh đất đó thuộc về dòng họ nhà Nguyễn.
Ø
Cái đó là Ngụy Biện và là Cướp công của những người đã chết cho
dân tộc sống… Thực chất thì đó là những kẻ Gian Hùng ăn cháo đá bát, vong ân bội
nghĩa. Sống nhờ người dân mà lại đi theo giặc để phản bội người dân. Nay ta gọi
là con buôn chánh trị.
TƯ TƯỞNG NGƯỜI XƯA KÝ THÁC
QUA NGHI THỨC TẾ VÀ LỄ:
·
Người xưa quan niệm rằng: Anh linh các vị hào kiệt đã bỏ mình
trong khi chiến đấu, máu xương của họ đã thấm vào đất, hồn của họ quanh quất
nơi đó nên nơi đó trở thành LINH ĐỊA. Vì muốn nhân cách hóa nên nơi đó gọi
là Hồn Thiêng Sông Núi.
·
Thần Kim Quy, tức cha Lạc Long, đôi lúc còn tả hình dáng là ông
già đạo mạo, vui tính và thích nô đùa với thiếu nhi dưới chân dung: Tóc bạc
phơ, khăn áo màu đỏ và cầm cái quạt phe phẩy tỏ vẻ hài lòng với đám quần chúng
xung quanh (hậu duệ của Ngài)
ÔN CỐ
ĐỂ NGHĨ ĐẾN THÂN PHẬN HẨM HIU CỦA MÌNH
Hôm
nay chúng ta tiếp nối bằng huyền thoại Nỏ Thần của An Dương Vương.
Huyền
Thoại Rồng Tiên thì vạch tiến trình bảo vệ đất nước: Xây dựng Việt Giáo trước tiên. Còn Huyền Thoại Nỏ Thần vạch tiến
trình làm mất nước: Phá hủy Việt Giáo
trước tiên.
Thực
nghiệm theo sự thăng trầm của lịch sử thì chúng ta thấy tư tưởng người xưa rất
đúng, gần ta nhất là Gia Long rồi đến Việt Cộng từ Hồ Chí Minh là những con
buôn chánh trị, họ đều quan niệm rằng: Thà
mất nước còn hơn mất quyền làm vua bù nhìn.
Ø Đó
là hành động hèn với giặc ác với dân
của Việt Cộng, Gia Long và Lê Chiêu Thống.
Bản
án tử hình chưa áp dụng là vì chúng chưa làm xong phận sự dẹp đối kháng. Chừng
nào xong thì quan Thày cắt cổ để trực tiếp chỉ huy đám dân đã mất hết sức đề
kháng.
Ø Bi kịch
của đảng Việt Cộng đang hồi kết thúc đáng để cho những người u-mê theo phò, thức
tỉnh để đừng rơi vào cảnh ghé đầu chịu
báng.
NHẬP ĐỀ
Bản văn huyền thoại:
1. Năm
257 trước tây lịch, Thục Phán lật đổ Hùng Vương thứ 18, lên ngôi với niên hiệu
là Thục An Dương Vương và tên nước là Âu
Lạc thay thế cho Văn Lang. Theo thể chế Quân Chủ Chuyên Chế thay cho thể chế Dân Chủ Phân Quyền.
2. Xây
cung vua gọi là Loa Thành (Loa là chôn ốc, vòng xoáy) cao 4 thước tây, chu vị
khoảng 8 cây số làm Cung Cấm và nơi
cư ngụ của đám cận thần để cai trị muôn dân.
3. Thành
xây đến đâu thì đổ đến đó, sau phải cầu Thần Linh giúp sức mới xây xong.
4. Thành
xây xong thì Thần Linh còn cho cái móng chân làm lẫy nỏ, bắn ra 1 mũi tên chết
hàng vạn người để thủ thành cho an tâm.
5. Khi
công việc đã xong, đất nước an bình thì Thục
Phán rước Trọng Thủy
là con của Triệu Đà về ở rể 3 năm
trước khi quyết định gả con gái là Mỵ
Châu cho Trọng Thủy hay không.
6. Trong
khi lưu trú trong cung vua, Trọng Thủy được Mỹ Châu đem nỏ thần ra khoe sức mạnh của vũ khí tối tân nên không sợ giặc phá
thành. Biết sự công hiệu của nỏ thần chàng bèn đánh cắp cái lẫy và thay vào đó
bằng cái lẫy giả mà Thục Phán cùng Mỵ Châu đều không hay biết.
7. Hết
hạn 3 năm, chàng xin phép về thăm quê nhưng vì chưa cưới nên nàng ở lại. Trước
khi ra đi thì chàng hỏi Mỵ Châu rằng: Nếu bị giặc cướp thành thì làm sao để kiếm
được nàng.
8. Lúc
này lửa tình đã bén nên nàng hồn nhiên nói rằng: Thiếp đi tới đâu thì rút lông
NGỖNG trong áo ném ra; chàng cứ theo đó mà kiếm.
9. Khi
phá được nỏ thần rồi thì Triệu Đà tiến đánh, lúc lấy nỏ thần ra thì vô hiệu nên
Thục Phán leo lên ngựa cùng Mỵ Châu ngồi đằng sau chạy thoát thân về phương
nam.
10. Đến
núi Mộ-dạ (huyện Đông thành, tỉnh Ngệ An) thì giặc đuổi tới không đường thoát.
Thục Phán cầu Thần Linh. Thần hiện lên nói rằng: "Giặc ngồi sau lưng nhà vua đấy" rồi biến mất.
11. Thục
Phán nổi giận tuốt gươm chém Mỵ Châu rồi nhảy xuống biển tự tử.
12. Trọng
Thủy chạy theo đến núi Mộ-dạ lượm xác người tình về chôn, sau đó nhảy xuống giếng
trong thành Cổ-loa tự tử vì hối hận đã phản bội người tình.
13.
Máu Mỵ Châu theo nước chảy ra biển, những con trai ăn phải hoá
thành ngọc quý. Nhưng nếu đem viên ngọc trân-châu
này rửa bằng nước giếng Trọng Thủy thì màu sắc đẹp hơn bội phần. Giống chuyện
Trương Chi và Mỵ Nương, chuyện nào có trước?
NHÂN SINH QUAN CỦA NGƯỜI VĂN LANG
·
Lúc đó dân Việt theo mẫu hệ nên con vua, cháu chúa khi kén rể thì
bắt chàng rể đến ở nhà mình trong 3 năm rồi mới quyết định.
Trong
khi đó thì 2 cô cậu không được gần nhau và bị canh chừng rất ngặt vì sợ lửa gần
rơm lâu ngày cũng bén. Do đó Trọng Thủy về thăm nhà không đem Mỵ Châu theo được.
Vì tình đã bén nên Mỵ Châu khờ khạo nói hết sự tình cho chàng nghe, không ngờ
chàng lại là điệp viên.
Mỵ
Châu là đám quần thần, và Trọng Thủy là cố vấn an ninh chánh trị…. Chuyện kể y
chang trường hợp Việt Cộng từ thời Hồ Chí Minh (1945) đến ngày nay. Bọn Tàu
chưa cắt cổ chúng là vì bọn Việt Cộng chưa làm xong công tác: Tiêu diệt sức đề
kháng của dân Việt
Ø Lê Duẩn đã nói: Ta
đánh Mỹ là đánh cho Tàu cho Nga.
Ø Hồ Chí Minh đã hô hào:
Người Việt là tên lích xung kích cho nghĩa vụ Quốc Tế với chủ nghĩa Tam Vô do
Nga Sô lãnh đạo. Dân Việt hy sinh cho Đại Đồng Thế Giới!
Ø Di chỉ để lại là thơ văn ca tụng tàn sát
đồng bào của Tố Hữu như:
Ca tụng
STALINE: Vui biết mấy khi con tập nói, tiếng đầu lòng con gọi STALINE,
Khóc Sitaline chết:
Thương cha thương mẹ,
thương chồng;
Thương mình thương một thương ông thương
mười .
Đấu tố địa chủ:
Giết,
giết nữa bàn tay không pbút nghỉ,
Cho
ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong.
Cho
đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng,
Thờ
Mao chủ tịch, thờ Lénine bất diệt!
Đúng
là tư tưởng vong nô, xóa bỏ văn hóa thuần việt, đua đòi văn hóa ngoại
lai : MẤT GỐC mà còn ca tụng
·
Thục Phán lật Hùng Vương vào năm 257 trước tây lịch; lúc đó Triệu Đà, nguyên quán ở Chiết Giang mới
có 1 tuổi, nên không thể làm thông gia với Thục Phán được; Trọng Thủy thuộc
hàng cháu. Trong gia phả Triệu Đà không có Trọng Thủy mà cháu đích tôn là Triệu
Muội (Triệu Hồ). Vậy thì Thái Tử chỉ có 1 tên, chứ không phải Trọng Thủy mang 2
tên.
·
Lông NGỖNG tượng trưng cho TIÊN.
Mỵ Châu khoác áo lông ngỗng có nghĩa vỏ bên ngoài là Tiên nhưng linh hồn
đã trao cho giặc rồi – đúng với tâm trạng bọn Việt Cộng tranh đấu để xóa bỏ
biên cương biến nước Việt thành quận huyện của TÀU.
·
Mỵ Châu: Mỵ là con vua
cháu chúa, Châu là quý giá; vì thế
nên sau khi chết thì biến thành ngọi TRAI; nhưng chưa sáng là vì còn vướng oan
tình với Trọng Thủy.
·
Trọng Thủy: Trọng là nặng,
là cán cân công lý là đứng giữa để phân xử (trọng tài); còn Thủy là nước. vậy thì Trọng Thủy là lấy
nước để rửa oan.
·
Ở thời điểm đó, Triệu Đà là người Việt gốc Ngô (Chiết Giang), và
Thục Phán là một tiểu bang của nước Văn Lang. Hai người đều muốn mình làm chủ
nưíc Văn Lang nên là thù nghịch nhưng lại cần nhau để truất phế vua HÙNG. Đối với
dân Việt thì 2 phe thù nghịch này đều là người Việt cả. Một người là gốc Văn
Lang, một nguời là gốc Ngô.
·
Chữ viết bắt đầu có vào thời đại đồ thép cứng, biết làm cưa để cưa
tre, làm dao để chẻ lạt làm mành-mành viết lên trên. Đi đâu cuốn lại rồi xách đi theo nên gọi là cuốn
sách. Vậy thì sớm lắm là vào 500 năm trước tây lịch (cuối đời Khổng
Khâu), và năm 257BC đã biết làm cánh nỏ bằng thép với sức bật rất mạnh. Đó là văn minh thời Âu Lạc
THÔNG ĐIỆP TRONG TRUYỆN
Ø Ần dụ 1
: Hồn nước mất trước nước mất sau
(điển hình là Hồ Chí Minh và đồng bọn)
Ø Ẩn dụ 2 : Được
thỏ bỏ cung. Đảng Việt Cộng còn tồn tại là vì chưa diệt xong đối kháng, chừng
nào xong thì Bắc Kinh sẽ dứt điểm. Chúng đang ở trong rọ nên đầu của chúng đang
treo trên sợi chỉ mành. Chó cùng cắn bậy nên thanh toán nhau trước khi chết.
CÁCH
ĐỌC THÔNG ĐIỆP
1. Tìm
nguyên đại của bản văn : Ở đây là sau khi Thục Phán mất ngôi
vào năm 207BC. Vậy thì bản văn được thiết lập trễ lắm là vào năm 200BC.
2. Tìm
kiếm tác giả để biết sở trường của họ (Quần Thần chạy theo)
3. Tìm
hiểu khúc lịch sử thời đó, (280BC-200BC).
4. Đọc
kỹ để rút ra nguyên bản; vì bản văn đã bị bóp méo hơn 100 lần
theo ý người đọc
Niên
đại thì đã nói rõ trong bản văn: Triệu Đà dứt Thục Phán vào năm 207BC vậy thì bản
văn được dựng trễ lắm là vào năm 200BC. Do đó khúc lịch cần tìm hiểu phải nằm
trong khoảng 300BC-200BC; trước và
sau triều đại Thục Phán.
ö
CHÁNH TRỊ TRONG VÙNG (300BC-200BC):
NHÀ
ĐÔNG CHU:
Lúc đó là: Cuối thời đại 7 quốc tranh hùng
(Đông Chu Liệt Quốc), biên cương ở phía bắc con sông Dương Tử Giang và lưu vực
con sông Hoàng Hà.
NƯỚC
SỞ:
Vùng Tứ Xuyên (Trùng Khánh) đang an bình
thì bị kéo vào vòng tranh chấp Bá quyền của các chư hầu nhà ĐôNG CHU.
Cương vực là phía tây con sông Hoài, nơi Hạng
Võ tự tử vì thua mưu trí Lưu Bang (hùm
thiêng khi đã sa cơ cũng hèn - Thế Lữ)
ĐẤT
VĂN LANG NỘI LOẠN (chia 3):
Lúc đó là cuối thời đại Hùng Vương thứ 18,
cương vực từ phía nam con sông Dương Tử Giang đến tận đèo Ải Vân (tức đèo Hải
Vân).
Ø Địa danh Ải Vân (Ải luôn luôn có mây mù)
được dùng từ đời Hồng Bàng đến hết nhà Tây Sơn (2.879BC-1802AD). Lúc này chưa
có 4 nước: CHÀM (CHAMPA tên của chính họ đặt ra), CHÂN LẠP, LÀO, THÁI.
Ø Chiêm (Chăm) là một sắc dân trong nước CHÀM (CHAMPA); cư ngụ ở vùng Ninh Thuận
(Phan Rang) và Bình Thuận (Phan Thiết)-Tức Chiêm Thành
1.
Nhâm Ngao (người Việt gốc Ngô ở vùng Chiết Giang) làm kháng chiến
và kiểm soát được nước Ngô khi trước cùng vùng Lạc Việt (Quảng Đông).
Sau khi đại thắng quân Đồ Thư thì Nhâm
Ngao chết vì tuổi già (#201BC) nên
trao quyền cho Triệu Đà (Phó Thủ Lãnh Kháng Chiến). Triệu Đà người vùng Chiết
Giang.
Triệu
Đà chủ trương theo thể chế Quân Chủ Đại Nghị
để hội nhập với nếp sống người dân Văn Lang; chỉ vì ông ta là người gốc NGÔ nên
phải uyển-chuyển.
2.
Thục Phán (vùng Âu Việt, tức Quảng Tây) là một tiểu bang của nước
Văn Lang từ ngày lập quốc – Sau khi dứt Hùng Vương thì theo thể chế Quân Chủ
Chuyên Chế vì có thế vững trong liên bang.
3.
Hùng Vương thứ 18 mất dần uy quyền, tức thế liên bang theo
thể chế Dân Chủ Phân Quyền đến hồi ly tán.
ö
Biến động chánh trị trên đất Tàu:
Nước
Tần với chủ nghĩa Cộng Sản:
Lúc đó nước Tần là một Bá Vương ở Thiểm
Tây, áp dụng chế độ công an trị của Vệ Ửng với chánh sách Ngũ Gia Liên Bảo và tiêu chuẩn Công Điền để kiểm soát dạ dày, nô lệ
kinh tế. Ông Bá Vưong này là Cụ của Tần
Thủy Hoàng (Cụ là bố của ông nội).
Đây là tiền thân của chủ nghĩa Cộng Sản mà Karl MARX cập nhật hóa cho phù hợp với
thời đại kỹ nghệ Tây Phương. Ông Karl Marx và ông Enghen chỉ là người hoàn thiện
chủ nghĩa này cho hợp với thời đại KỸ NGHỆ, chứ các ông không phải là người
sáng tạo ra nó.
-
Lénine tu
bổ cho ăn khách (lưu manh).
-
Mao
Trạch Đông lại thêm bớt cho phù hợp với tính hiếu sát của bọn Quân Phiệt có
từ thời nhà CHU (1.122BC-221BC) – (gian hùng)
-
Hồ
Chí Minh là đồ đệ (đày tớ), đem thi hành ở Việt Nam ta để biến nước Việt
thành chư hầu của Đệ Tam Quốc Tế; hy
sinh đất nước cho nghĩa vụ Quốc Tế (lời của Hồ Chí Minh hô hào trong cuộc
chiến tàn phá đất nước) – (vong nô).
221BC – 208BC:
Tần Thủy Hoàng làm
thay đổi cục diện chánh trị trong vùng, Triệu
Đà lợi dụng cơ hội dứt Thục Phán khi thời cơ tới. Đây là thời điểm đấu trí
tay 3 giữa Tần, Thục và Triệu mà
chúng ta phải phân tích để học hỏi mưu lược của 3 phe.
236BC : Đầy ải dân lành.
Tần Thủy Hoàng (26
tuổi) dẹp các xứ quân nhà CHU, dùng chánh sách khắt khe của Vệ Ửng, không trái
tim, không tình người mà chỉ có uy quyền trên hết.
Vì thế nên con đường đi là: CHIẾN THẮNG hay CHẾT; do đó ông ta sống
nhờ chiến tranh để áp đảo sự oán giận của người dân. Đây là người đầu tiên áp dụng chủ nghĩa Cộng Sản.
225BC:
Tướng Chương Đàm của Tần
Thủy Hoàng dùng binh pháp Phạm Lãi
(người Lạc Việt) mới thôn tính được nước Sở. Nước Sở bị khóa sổ, Hạng Võ
lánh nạn ở Quảng Đông.
214BC:
Tần Thủy Hoàng ký
hiệp ước bất tương xâm với Thục Phán
để đánh nhóm Nhâm Ngao+Triệu Đà ở Quảng Đông và Tràng Sa (Hồ Nam) - nguồn sử liệu: Lịch Triều Hiến Chương của
Phan Huy Chú ra năm 1820 dưới thời Minh Mạng.
213BC:
Chiến thắng dễ dàng ở vùng Lạc Việt (Quảng Đông), nhưng thất bại
chua cay ở vùng Hồ Nam. Tướng Đồ Thư,
tư lệnh chiến trường bị Nhâm Ngao và Triệu Đà chém chết tại trận tiền ở Ma
Thiêng Lãnh bằng hỏa công, chết sạch.
212BC:
Toán
quân ở Quảng Đông ở thế kẹt. Nếu Thục
Phán bắt tay với Nhâm Ngao để cắt đường lương. Vì thế nên Tần Thủy Hoàng phải
đích thân thị sát chiến trường để biết cách thay đổi chiến lược: Giữ Quảng Đông
hay bỏ? Tiến thoái lưỡng nan.
Theo
kế hoạch dự tính thì sau khi chiến thắng ở Hồ Nam, 3 mặt giáp công đánh tan
nhóm Nhâm Ngao và Triệu Đà; sau đó dứt Thục Phán và làm Bá Chủ Thế Giới (toàn vùng Đông Nam Á). Nhưng Hồ Nam thất bại nên ở
thế chênh vênh, không rút mau thì chết.
210BC:
Tần
Thủy Hoàng tức tốc đem một ít cận vệ xuyên qua nước Sở đến thủ phủ Quảng Đông
thị sát.
Hạng Võ có
mặt tại đó, tính ám sát nhưng ông chú là Hạng
Lương khuyên giải nên thôi. Sau khi thị sát xong thì lại tức tốc đi về Hàm
Dương để lo việc nước.
Vì
đi quá gấp nên đem ít cận vệ, do đó bị kháng chiến nước Sở ám sát trên đường về;
chỉ vì kháng chiến ở Sở biết trước lộ trình nên lên kế hoạch giết.
Ø Sau
khi chết thì Triều Đình Hàm Dương rối loạn.
Thái
Tử bị đày đi công trường Vạn Lý Trường Thành vì chống đối sự tàn bạo của vua
cha. Triều thần bất phục nên làm di chúc giả để phế trưởng lập thứ.
Do
đó Lưu Bang dấy nghiệp vào năm 208BC và lập lên nhà HÁN với miếu hiệu Hán Cao Tổ
chứ không phải Lưu Thái Tổ hay Hán Thái Tổ vì chữ Thái ông dành cho bố ông.
Biến
động chánh trị trên đất Việt
#600BC:
Lãnh vương vùng Lạc Việt dùng binh pháp Phạm Lãi đã phá tan binh
pháp Tôn Vũ của Ngô Phù sai và sát nhập nước Ngô vào Liên Bang Văn Lang bằng Hội
Nhập Văn Hóa để chấm dứt vĩnh viễn xung đột vì sự hiếu chiến của các nhà Lãnh Đạo
nước Ngô.
#280BC:
Nhóm
kháng chiến Nhâm Ngao kiểm soát nước Ngô và tiểu bang Lạc Việt (Quảng Đông).
Nhóm này giúp Thục Phán, lãnh vương vùng Âu Việt lật đổ Hùng Vương thứ 18 để
chúng có thế trong vấn đề lãnh đạo nước Văn Lang.
Lý do là: Nhóm
kháng chiến Nhâm Ngao không thể đi xa hơn được là vì: Chúng là người Việt gốc
Ngô ở vùng Chiết Giang nên thâu tóm tiểu bang của Câu Tiễn đã là quá đáng lắm rồi.
Vì chính Câu Tiễn sát nhập chúng vào nước Văn Lang chứ đâu có phải quyết định của
vua HÙNG.
Tham vọng của Nhâm Ngao (thống
lãnh cả 2 nước Ngô và Việt): Nếu nhóm này dùng bạo lực để thống lãnh nước Văn
Lang thì sẽ thất nhân tâm, tứ bề thụ địch nên không dám làm để sôi hỏng bỏng không.
Vì
theo dự đoán thì nhóm chiến thắng ở phía Bắc, sau khi ổn định thì thế nào cũng
đánh xuống phương nam thôn tính nước Sở và nước Văn Lang nên ham ăn thì sẽ hóc.
Đó
cũng là lý do để Nhâm Ngao chưa xưng Đế và thành lập lại nước Ngô. Vì sau khi
lên ngôi Đế hay Vương là xác nhận biên cương của mình chỉ đến thế là hết. Hơn nữa
khôi phục lại nước Ngô là một hành động nguy hiểm của nhà chính trị non có cái
nhìn thiển cận. Phải lấy cả nước Văn Lang trong chánh nghĩa thì mới có thể địch
nổi nước của nhà hậu Chu sau khi cuộc tương tàn chấm đứt, và trước sau gì thì
nó cũng phải chấm dứt.
Sau
khi chấm dứt thì phe chiến thắng sẽ suy yếu nên phải mở cuộc chiến ra nước láng
giềng để kìm kẹp người dân thì chế độ mới vững được.
Trong lúc chờ cơ hội thì nhóm Nhâm Ngao nghĩ ra kế là xúi bên
trong nổi loạn. Vì thế nên Nhâm Ngao giúp ngay ông láng giềng là Thục Phán,
lãnh vương vùng Âu Việt (Quảng Tây) làm đảo chánh để chấm dứt chế độ Dân Chủ
Phân Quyền dưới thời Hùng Vương thứ 18.
BỐI CẢNH LÚC ĐÓ
THỤC PHÁN:
257BC: Với sự trợ giúp và
kích động của nhóm Nhâm Ngao - cố vấn chánh trị và tài chánh nằm ngay trong
nhóm lãnh đạo, Thục Phán thành công trong vấn đề lật đổ Hùng Vương thứ 18 nhưng
không được lòng dân. Bằng chứng cụ thể là:
1. Thay
tên nước Văn Lang bằng tên Âu Lạc,
có nghĩa là từ nay trở đi nước Văn Lang được lãnh đạo bởi người Âu Việt với sự
trợ giúp của người Lạc Việt.
2. Thay đổi chế độ: Từ
thể chế Dân Chủ Phân Quyền chuyển sang Quân Chủ Chuyên Chế.
3. Dùng công quỹ cho việc cá nhân:
Loa Thành là nơi cung cấm dùng để nhà vua và đám cận thần vui hưởng, giống như
dinh thự của các quan Việt Cộng ngày hôm nay: Xa lìa dân chúng, dựa vào ngoại
bang để đàn áp và bóc lột người dân.
4. Ngày Quốc Tổ: Muốn
an dân nên Thục Phán phải lùi bước và chấp nhận thành lập ngày Quốc Tồ để toàn
dân được quyền thảo luận việc nước (nay ta gọi là làm chánh trị), nhớ công đức
18 triều đại vua Hùng và nhắc nhở chánh quyền phải làm việc giữ nước an dân.
TRIỆU
ĐÀ:
Lúc
này thì Triệu Đà mới đuợc 1 tuổi, sinh năm 258BC ở vùng Chiết Giang, về sau gia
nhập nhóm Nhâm Ngao và làm phụ tá cho Nhâm Ngao. Vì thế nên người ghét thì bảo
là TÀU, nhưng chính người TÀU (nhà Hán) lại bảo ông ta không phải là Tàu nên ăn
nói nhập nhằng; lúc thế này khi thế nọ. Thực sự ông ta là người NGÔ nhưng lại
hướng Việt. Lúc sống thì theo nếp sống người Việt; nhưng khi chết lại theo quan
niệm linh hồn theo người NGÔ; bằng chứng là những di vật đào được ở mả Triệu Muội
Đế và trưng bày ở San Francisco vào đầu tháng septembre 2000 (tháng 09/2000).
ö
TIẾN TRÌNH MẤT NƯỚC
Mất quyền lãnh đạo
Vì
quá lún sâu vào nô lệ nên phải chấp nhận sự kiểm soát chánh trị của Nhâm Ngao
và Triệu Đà bằng cách chấp nhận cố vấn của chúng ở ngay trong Triều.
Ø Trường
hợp Triều Đình Gia Long và Trìều Đình Việt Cộng là một điển hình
Như
vậy là mọi ngõ ngách giặc thù đều biết rõ hơn mình nên việc mất nước chỉ là thời
gian. Chúng chưa ra tay là vì chưa tới cơ hội chín mùi và chúng cũng không muốn
hái trái non.
Ø Vì
thế nên mới có hành động van xin kẻ thù như Tự Đức và Nguyễn Phú Trọng.
RẰNG:
Ngay
từ lúc ban đầu làm cách mạng, khi lấy lại nước Ngô và chiếm đóng vùng Lạc Việt
rồi, thì Nhâm Ngao không muốn phục hồi nước Ngô mà tính cách làm sao để lãnh đạo
trọn nước Văn Lang, di đô về Phiên Ngung, gần Cối Kê ở hữu ngạn (phía nam) con
sông Tây Giang chảy ra HongKong
Do đó bắt buộc Nhâm Ngao phải tiến hành 3 bước là: Chiếm một vùng
tự trị làm vốn, gây bất ổn chánh trị rồi thừa cơ thâu tóm chánh quyền.
Đây
cũng là trường hợp Việt Cộng đi theo Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, và cũng là trường
hơp Pháp giúp Gia Long hay đường lối Mỹ xúi nhóm loạn tướng lật đổ Tổng Thống
Ngô Đình Diệm chỉ vì chúng hám chức VUA BÙ NHÌN với quan niệm:
"Thà mất nước còn hơn mất Quyền Bù Nhìn"
Ø Vì
não trạng như vậy nên chúng coi người dân là kẻ nô lệ ăn bám xã hội: Sản xuất
theo chỉ tiêu là bổn phận, còn thụ hưởng là đặc ân của triều đình bố thí cho (lời
Việt Cộng)
ö
BỔN PHẬN GIỮ NƯỚC CỦA CHÚNG TA
Người xưa muốn nhắn nhủ con cháu nên xa lánh bọn bán nước cầu vinh
bằng huyền thoại nỏ thần đó là; ấy thế mà nay còn có kẻ vì không biết lịch sử
nên hy sinh tính mạng để bảo vệ chế độ Việt Cộng bán nước hại dân.
Vì phải cảnh tỉnh nên chúng ta có bổn phận phải phổ biến sâu rộng
2 ẩn dụ sau đây để làm rã đám bọn hỗ trợ những kẻ bán nước vì háo danh:
Ẩn dụ số 1: Bỏ nước giữ nhà, nước mất
thì nhà tan.
Mục đích xây thành: Xây pháo đài phòng thủ đảo
chánh
Thành
này được xây cao 4 thước, với chu vi khoảng 4 cây số làm nơi cung cấm của vua
và cận thần. Thành được canh phòng nghiêm ngặt chỉ vì sợ đảo chánh.
Lý do: Thục Phán chưa thu
phục được lòng dân; vì thế mói nhượng bộ cho lập ngày Quốc Tổ
Ø Đây
là hành động xa dân mà từ thời Hồng Bàng chẳng triều đình nào làm như vậy cả.
Vì
lý do này nên bao nhiêu công quỹ đều cạn kiệt vì phải chi cho việc bảo vệ an
ninh chánh trị phe nhóm.
LÝ DO thành xây tới đâu thì đổ tới đó :
-
Hoặc rút ruột công trình, như Việt Cộng xây cầu thì cầu sập, xây
đường thì đường lún…
-
Hoặc kiến trúc dỏm: Kỹ thuật gia thì Hồng hơn Chuyên do Việt Cộng đào tạo
Vì cần
phải bảo vệ "an ninh chánh trị" (danh từ Việt Cộng) nên phải nhờ đến
Nhâm Ngao cho vay tiền và gửi nhà thầu sang xây: Dân Việt thất nghiệp, nợ nần
chồng chất.
Ø
Đó là nguyên nhân đưa đến lún sâu vào vòng nô lệ. Lý do: Nhâm Ngao
nắm hầu bao và biết rõ mọi bí mật Triều Đình
Nhìn lại ngày hôm nay:
Từ Hồ Chí Minh cho tới nay đều theo quy trình này nên ngày mất nước
là điều chắc chắn, nay là thời kỳ chót của đoạn cuối cùng.
Có khác chăng là : Thời đó Triệu Đà người Việt gốc Ngô, thời nay
thì Bắc Kinh là kẻ thù truyền kiếp của dân Việt. Người thời đó khoanh tay đứng
nhìn là vì đó là tranh chấp nội bộ, bên nào lãnh đạo cũng được; còn nay Bắc
Kinh là kẻ thù truyền kiếp của dân Việt, để nó thống trị thì diệt chủng.
Ø Do
đó thế hệ chúng ta phải lợi dụng thiên thời này để tránh nạn "Hán
Hóa" – Chúng ta có phương án diệt Việt Cộng và chống Hán hóa nào chưa?
Ø Nếu
chưa thì hãy mau-mau cùng nhau hội-ý soạn đề án dứt điểm cho dân được nhờ. Còn
khoanh tay đứng nhìn thì chết mất ngáp cả dân tộc. Chớ coi thường!
Ẩn dụ 2: Được
nỏ bỏ cung
Rước giặc vô nhà (y
chang thời Chiêu Thống, Gia Long và Việt Cộng).
-
Hành động đầu tiên của Thục Phán là nhờ Nhâm Ngao giúp sức để lật
đổ Hùng Vương
-
Hành động kế tiếp là vay nợ để xây thành giữ an ninh chánh trị, độc
quyền lãnh đạo.
Nghĩ lại mà hận!
Nhiều người NGU LÂU DỐT
BỀN
Ngày nay, Hồ Chí Minh nhờ Tây đánh Việt Quốc, rồi nhờ Tàu đánh Tây.
Không những lộ mặt bán nước bằng hành động đổi tên nước, đi vay nợ mua vũ khí của
Tàu để đánh miền Nam. Đánh xong bán nước cho Tàu để trả kinh phí chiến tranh
…. Ấy thế mà có người ca tụng là khôn!
Đọc
thêm về kỹ thuật làm nỏ thần
Lý do chạy thoát thân
và chết cả chùm:
Đây là đầu thới kỳ thép cứng,
tên bằng đồng thì nỏ phải có cánh bằng thép cứng thì mới phng đi được. Cánh
cung dài 4 thước tây, gồm 3 lớp bằng những
thanh thép mỏng như nhíp xe hơi của 100 năm về trước.
Thành xây cao 4 thước, leo lên theo vòng xoáy chôn ổc nên ở từng
trên có thể bắn thằng vào quân phá thành. Đó là nỏ thần một lúc bắn ra dăm bảy
mũi tên bằng đồng dư sức xuyên qua áo giáp bằng đồng. Vì kỹ thuật còn non nớt,
nỏ thì nặng mà phương tiện di chuyển lại không có nên nó chỉ là vũ khí tự vệ.
Do đó khi thành bị vây thì phải mở đường máu chạy thoát thân. Vì
xa dân nên phải chạy thẳng một lèo đến núi Mộ-dạ và chết chùm ở đó. Nội bộ đổ lỗi
cho nhau nên đâm chém nhau.
Kỹ thuật làm tên bằng đồng:
Ø Tên
bằng đồng thì nặng và không có đuôi như đầu đạn ngày hôm nay.
Lý
do là không cần gió nâng tên lên để cân bằng với sức hút của trái đất, như mũi
tên bằng tre bay chậm.
Tên
bắn đi bao giờ cũng chúc xuống, đi nhanh thì độ chúc không đáng kể.
Tên
bằng đồng nặng nên cánh nỏ phải khoẻ và căng dây phải bằng máy thì sức bật mới
mạnh và đưa tên phóng nhanh. Đó là nguyên lý Động Lực Học
Mũi nhọn,
càng thẳng và càng nhẵn thi càng tốt. Tuy không có đuôi dùng làm cánh nâng như tên bằng tre, nhưng ở đít
có gắn một khúc tre nhỏ để khi nạp thì tên dính vào cái đinh của rãnh nỏ đặng
không rơi khi nỏ chúc xuống.
Cách làm nỏ bằng thép cứng:
Sống
cung thì bằng gỗ lim, giây kéo bằng thép hay dây chão kéo gỗ, cánh bằng các
thanh thép cứng có sức đàn-hồi gồm 3 lớp dài từ trong ra ngoài là 2, 3 và 4 thước
tây.
Muốn
thép cứng để có sức bật nhanh thì thanh thép phải mỏng.
Sức
căng của cánh nỏ rất mạnh nên phải cần một kỹ thuật căng giây; như kỹ thuật kéo
gỗ làm nhà.
Ø Khi
nhả thì cái lẫy phải bằng thép cứng
còn không thì lẫy cong hay bị gãy.
Lẫy thần bị đánh tráo:
Bọn
gián điệp Tàu làm cố vấn cho vua, ăn cắp kỹ thuật và thay cái lẫy bằng thép
non; khi bật thì lẫy cong chứ dây căng không bật.
Tác
giả huyền thoại hóa bằng móng chân thần linh… Và người sau thi vị hóa thành
móng chân Thần Kim Quy.
Nhưng họ quên rằng: Thần
Kim Quy là cha Lạc Long, và cha Lạc Long chỉ giúp người cứu nước vì nghĩa chứ
không giúp cá nhân hay phe nhóm.
Khoa học giải thích :
Động
lực học là học về nguyên lý của sự chuyển động một vật do các lực gây ra.
·
Một vật, bất kể nặng nhẹ đều chịu sức hút của trái đất và rơi theo
gia tốc nhất định mà ta gọi là sự rơi trong
chân không. Gia tốc là sự gia tăng vận tốc.
·
Một vật trước khi phóng đi, nghĩa là khi ra khỏi dụng cụ (súng,
cung, nỏ…) đều có vận tốc lúc ban đầu và nó đi theo con đường thẳng đó. Ta gọi
là lực chính
·
Nếu không có sức cản của không khí thì nó đi hoài không ngưng. Vì
có sức cản của không khí nên vận tốc giảm dần (gia tốc âm), nếu có gió thì nó
đi chệch hướng. Vì thế nên đầu đạn vừa đi vừa phải xoáy để bớt sức cản của
không khí.
·
Khi ra khỏi dụng cụ phóng thì nó chịu 2 lực là : Một lực chính do vận tốc lúc ban đầu và một
lực phụ do sức hút của trái đất nên
nó đi theo đường PARABOLE chứ không phải là đường thẳng nữa. Mũi tên bằng tre
có đuôi là để lúc lướt gió thì sức gió làm mũi tên đi thẳng chứ không chúc xuống;
viên đạn thì vừa đi vừa chúc xuống.
Với
nguyên lý này thì mũi tên bằng đồng cần sức phóng đi nhanh để khi tới đích còn
đủ sức đâm thủng áo bằng đồng được. Do đó sức bật phải mạnh, hệ thống vận hành
của nỏ phải bằng thép cứng. Tuy thời gian nạp tên lâu nhưng nỏ phóng đi một lúc
dăm bảy mũi tên nên gọi là nỏ liên châu.
Liên là dính chùm. Châu là báu vật, tức mũi tên quý bằng đồng.
Ø Liên
châu là nhiều mũi tên đồng phóng đi cùng một lúc.
LIÊN
có nghĩa là liền nhau ; CHÂU là mũi tên bằng đồng quý hơn mũi tên bằng tre
HẬU QUẢ CỦA VIỆC PHẢN QUỐC
Khi Thục Phán đã nằm trong rọ, lệ thuộc Nhâm Ngao và xa rời nhân
dân thì Nhâm Ngao chết vì già. Triệu Đà lên thay để tiếp tục công việc giang dở.
Lúc đó tình thế trong vùng cũng gây-cấn. Tính nhầm 1 nuớc là mất nước và mất mạng
luôn nên Thục Phán chưa chết vì Triệu Đà chưa ra tay đó thôi.
THẾ CHÂN VẠC
Triệu Đà : Là
tay chánh trị giỏi, biết lợi dụng hoàn cảnh để đánh, thủ hay lùi chiến thuật.
Tần Thủy Hoàng :Tính
nhầm nước cờ, không nghĩ đến khi thua nên tự cắt đứt đường rút quân để chết yểu
vì sự ham ăn.
Thục Phán :
Ở thế bị động nên đã bày cỗ sẵn cho Triệu Đà xơi.
Như
trên đã nói: Triệu Đà hay Thục Phán
đều là người Việt cả nên người dân không muốn chết cho phe nhóm tranh quyền nào
cả; vì thế nên Triệu Đà chỉ cần một cuộc hành quân là giết được Thục Phán, sau
đó chỉ cần phủ dụ người dân bằng cách dời đô về Phiên Ngung và áp dụng thể chế
Quân Chủ Đại Nghị thay cho Chuyên Chế là an dân. Quân Chủ Đại Nghị là vua làm ý
theo quần thần. Dân vùng nào thì quan người vùng đó quản trị. Mả Triệu Muội Đế
đã chứng minh điều này (triển lãm ở San Francisco Septembre 2000). Triệu Muội Đế
sống theo văn hóa Văn Lang, nhưng chết đi chôn sống người và vật theo để xuống
âm phủ còn có người hầu theo quan niệm ngời NGÔ – coi bài Rồng Tiên thì rõ.
Ø
Giờ phút này thì Việt Cộng đang ở thế sắp bị cọp (Bắc Kinh) vồ rồi.
Tần Thủy Hoàng
theo thể chế Công An trị, Ngũ Gia Liên Bảo và kiểm soát dạ dày (tiền thân của
chủ nghĩa Cộng Sản) nên buộc phải mở rộng chiến tranh.
Thay vì chiến tranh cầm chừng, dai dẳng với phía Mông Cổ, Mãn
Thanh hay tranh chấp biên giới với Nhâm Ngao để giữ thể chủ động chiến trường
thì lại ham ăn nên bị hóc.
Ông ta tính tấn đánh nước Ngô của Nhâm Ngao và Triệu Đà, rồi sau
đó nuốt Thục Phán.
Vì khinh địch, coi thuờng mưu lược của nhóm Nhâm Ngao nên ông bị
sa lầy ở Quảng Đông và kết thúc bằng cái chết trên đường trở về Hàm Dương.
Thục Phán tuy
ký hiệp ước bất tương xâm với Tần Thủy Hoàng nhưng biết rõ trước sau gì cũng bị
tấn công nên đã lo xây thành ở Quảng Tây để phòng thủ phía Bắc vì nghĩ rằng Tần
Thủy Hoàng sẽ thắng Nhâm Ngao nên không phòng thủ phía Tây (sử Phan Huy Chú
-1820).
Nhâm Ngao và Triệu Đà: Đúng
là danh nhân phi thường. Về tương quan lực lượng thì Triệu Đà thua đứt Tần Thủy
Hoàng, vị thế ở chỗ kẹt sẽ bị tứ bể thụ đích. Ấy thế mà họ đã bỏ con săn-sắt bắt
con cá rô nên thắng cả 2 đối thủ.
Quảng Đông (vùng Lạc Việt) là vùng chiếm đóng, binh lính người Việt
nên thiếu nhuệ khí, do đó bỏ ngỏ Quảng Đông; rút tướng người Ngô về trấn giữ
vùng đất Bách Việt để lính Ngô lên tinh thần quyết chiến.
KẾT
QUẢ
Quân
TẦN chiếm vùng Lạc Việt dễ dàng, nhưng đoàn quân của Đồ Thư thua đậm ở Tràng Sa
(Bách Việt) nên phải lui binh về Hàm Dương…. Nếu Triệu Đà bắt tay với Thục Phán
đánh chặn đường lui binh thì quân TẦN ở vùng Lạc Việt sẽ bị tuyệt đường lương;
vì thế nên TẦN THỦY HOÀNG phải tới kinh lý vùng đó, khi về thì bị quân kháng
chiến nước Sở ám sát.
Sau cái chết của Tần Thủy Hoàng thì Hàm Dương rối loạn. Triệu Đà chuyển binh cấp tốc tiến đánh
thẳng vào thành Cổ Loa là trung tâm chỉ huy của Thục Phán.
Giặc
bên ngoài đánh vào, gián điệp bên trong đánh cắp lẫy nỏ nên Thục Phán không chống
cự nổi, mở đường máu chạy thoát thân. Tới núi Mộ-dạ thì họp tàn quân để nghị tội,
chém giết lung tung vì nhìn đâu cũng thấy nội tuyến. Giết ngay những người phụ
tá cho mình để cuối cùng phải tự sát vì sự tham quyền cố vị của mình.
Ø
Âu
đây chẳng phải là bài học cho Tổng Bí Thư đảng Việt Cộng hay sao?
Trường
hợp này đã từng xảy ra vào những ngày chót của HITLER, vào thời Minh Mạng, Tự Đức;
và nay thì lò lửa của Nguyễn Phú Trọng đang lên cơn giết hại đồng chí một cách
công khai. Nhưng hắn không thoát khỏi ngày đền tội như Thục Phán đâu.
ö
ÔN CỐ / Ngẫm chuyện xưa
Câu chuyện Trọng Thủy và Mỵ Châu nói lên tiến trình mất nước dưới
triều THỤC PHÁN gồm 2 ẩn dụ chánh là:
A. Hồn nước mất trước, nước mất
sau theo tiến trình tự nhiên là:
Nhờ
giặc giết dân, đem giặc vào nhà, coi dân là thù nghịch thì sẽ có ngày bị giặc
chặt đầu. Sở dĩ chưa mất đầu là nhờ 2 yếu tố:
1)
Chưa làm xong nhiệm vụ dẹp đám yêu nước.
2)
Hoàn cảnh bên ngoài chưa cho phép nên tạm nhốt lại để đợi thời.
Chúng
ta có thể trắc nghiệm bằng hành động "HÈN
VỚI GIẶC ÁC VỚI DÂN" để cùng nhau lên chương trình diệt Việt Cộng, chống
Tàu Cộng
·
Gia Long cầu viện người Pháp kết quả là : Bán nưóc cho Pháp để trả
nợ.
·
Hồ Chí Minh cầu viện Tàu để làm nghĩa vụ Quốc Tế, nay nhượng đất
cho Tàu để trả nợ chiến phí. Phút lâm chung của chúng đã điểm !
B. Được thỏ bỏ cung: Khi
xong việc thì:
-
Con
cháu Gia Long cũng đi tù mút mù.
-
Đảng
viên Việt Cộng bị Tàu Cộng làm thịt trước tiên, lớn chặt trước, bé chặt sau, bọn
lau-nhau chết đói dần.
Vậy
thì:
Chúng ta phải làm gì để đám tay chân rã
ngũ, đừng để chúng mang vạ lây? Chương trình ra sao đây?
Tất cả các dữ kiện trong tiến trình mất nước
đã được phơi bày. Dựa vào đó thì chúng tôi xin giải thích huyền thoại này như
sau:
·
Thục Phán là con người có thật trong lịch sử.
·
Mỵ Châu là nhân vật dựng lên để ký thác thông điệp.
Mỵ là con vua, châu là quý nên khi chết đi
thì thành ngọc quý nhưng chưa tuyệt hảo vì còn vương nợ tình.
·
Trọng Thủy là nhân vật giả tưởng, đại diện cho đám cố vấn Tàu để
ký thác thông điệp: Đem giặc vô cung là hành động bán nước nên nước chẳng mất
trước thì cũng mất sau. Vì khi giặc vào trong chánh quyền rồi thì chỉ còn cách
đưa tay cho giặc trói. Ta đã mất chủ quyền chánh trị rồi, mọi việc đều phải làm
theo ý giặc, trái thì mất đầu nên lúc nào cũng khiếp sợ .
Điển hình là hành động khúm núm của lãnh đạo
Việt Cộng với Bắc Kinh nên phổ biến sâu rộng để đánh thức những kẻ khờ khạo bảo
vệ chế độ.
·
Thục Phán tự tử để trả món nợ ngây ngô vì ham quyền nên trở
thành kẻ bán nước.
ö
TRI
TÂN / Tìm cách thoát
hiểm
Câu chuyện chỉ gói ghém trong 1 nhân vật
có thật là Thục Phán và 2 nhân vật giả tưởng là Trọng Thủy và Mỵ Châu, mà đã
nói đầy đủ tiến trình mất nước:
ü Trước hết là "Hồn Nước mất trước nước mất sau". Hồn nước là VIỆT GIÁO trong huyền thoại Rồng Tiên
và trong thông điệp Văn Lang lập quốc.
ü Sau đó mất từ-từ, từ Việt Triết đến Việt Đạo
để sau chót mất hết Việt Lực.
Nếu chúng ta nghiên cứu chương trình học vấn và cách
tuyển dụng nhân tài trong bộ máy nhà cầm quyền từ đời nhà Hậu Lê cho tới ngày
hôm nay thì chúng ta nhận thấy rằng:
a.
Chương
trình giáo dục của vua Lê Thánh Tôn (1460) đã làm cho con người suy thoái nên
dân ta mới hỗ trợ những tên con buôn chánh trị như: Trịnh Kiểm, Nguyễm Kim,
Chiêu Thống, Gia Long và Việt Cộng dưới ảo tưởng "YÊU NƯỚC THƯƠNG
DÂN".
Ø Chúng đi theo đúng tiến trình của Thục
Phán dân ta mà không nhìn ra.
b.
Điển
hình cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim đã đầu độc thế hệ 1945 xa lánh
chánh trị nên chúng ta mới gánh chịu thảm trạng ngày hôm nay. Ấy thế mà lại có
người cho là sách gối đầu giường nên đã tái bản (1978-USA) để đầu độc thế hệ
ngày hôm nay
Ø Vậy thì chúng ta phải làm gì để thoát mê hồn trận dịch chủ tái nô này?
Xóa bỏ tàn tích nô lệ đã in sâu trong đầu không phải
là chuyện dễ. Điển hình là Mã Viện (43AD) đã xóa bỏ Việt Lịch (tính theo sao
dùng cho nghề nông) và bắt dân ta phải theo Âm Lịch là lịch của dân du-mục.
Dùng Âm Lịch không những còn tư duy nô dịch mà thất thu vì gieo mạ trái múa.
Chúng ta hãy ngẫm nghĩ xem có đúng như vậy không?
Câu
trả lời là : Muốn thoát mê hồn
trận dịch chủ tái nô thì hãy mau-mau theo lời chỉ dẫn của cha Lạc Long trong
chuyện Rồng Tiên Khai Quốc mà chúng ta đã thảo luận là:
Phát huy mặt trận Văn Hóa để xây dựng Cộng Đồng, bảo vệ
Tự Chủ.
Đó là giải pháp duy nhất mà thế hệ chúng
ta có thể làm được. Quý vị nào có phưong pháp khác thì xin phổ biến để cùng
nhau thi hành. Mong lắm thay!
Hai bài huyền thoại Rồng Tiên và Nỏ Thần rất
đáng để chúng ta suy ngẫm đặng đưa ra đề án thoát khỏi vấn nạn ngày hôm nay để
con cháu có phương tiện thăng tiến bằng ngưới.
Ø Hãy
cứu con cháu chúng ta, đừng lùa chúng vào thảm họa vong nô, Hán Hóa.
HẾT
Đính
kèm:
·
Bản
đồ hồi hương 3.400BC (Đế Nghi và Lộc Tục)
·
Cương
vực nước Văn Lang (2.897BC-111BC)
·
Khúc
lịch sử Thục Phán (247BC-182BC)
·
Các
chế độ ở Hoa Lục (2.070BC-1911AD) –tài liệu Đài Loan
NHẮC
LẠI:
Thông điệp Rồng Tiên để lại bằng bia miệng,
vì thời đó chưa có chữ viết. Lý do là chưa tạo được nền để viết và đem theo. Chữ
viết có vào đầu thời kỳ thép non, #500BC, có cưa để cưa tre, có dao để chẻ lạt
đan thành mành-mành vết lên rồi cuốn lại và xách theo nên gọi là CUỐN SÁCH mà
chúng ta vẫn dùng cho đến ngày hôm nay
Chuyện Rồng Tiên là do hai ông Phạm Lãi
Văn Chủng (vùng Lạc Việt nay là Quảng Đông) đặt ra để tả trận đánh phục thù của
Câu Tiễn (Quảng Đông) chống với Phù Sai làm vua nuớc NGÔ. Đây l đòn tâm lý chiến
để an dân và trong đó có rất nhiều thông điệp truyền lại cho hậu thế.
Chuyện xảy ra vào khoảng 600B , đầu thời của
Đông Chu Liệt Quốc đánh nhau dữ dội; kết thúc bằng nhà Tần thâu tóm thiên hạ
vào năm 221BC. Do đó câu chuyệnRồng Tiên có rất nhiều ý nghĩa không những về
Văn Hóa ting nghĩa con Cngười mà cò ghi luôn cả văn minh nhân hậu của ngưi thời
đó lấy hạnh phúc người dân làm trọng.
Câu Tiễn là Lãnh vương vùng Lạc Việt, một
tiểu bang của nước Văn Lang, hiện nay ở Quảng Đông còn miếu thờ của ông được gọi
là Việt Vũ Vương , nơi Hạng Võ cử đỉnh để
nhờ kháng chiến Lạc Việt giúp một tay đánh quânTần.
Sau khi chiến thắng ông sát nhập nước Ngô
vào Liên Bang Việt để nói : Ngô Việt đều là sắc dân Nông Nghiệp (ăn cơm) cả
nên anh em thôi đừng đánh nhau nữa ; thôi để TỚ (Việt) lãnh đạo theo thể
chế Hội Nhập Văn Hóa ; dân chủ Phân Quyền.
Kẻ thù chính là quân nhà CHU ở phía bắc
con sông Dương Tử; chúng đã tiêu diệt con cháu Đế Nghi rồi, phần sống sót chạy
qua Mỹ bằng ngả ALASKA; tức dân da đỏ ngày hôm nay. Vì thế nên chuyện không nói
tới con cháu Đế Nghi mà chỉ nói đến con cháu Lộc Tục thôi.
ĐỊA
DANH:
Thay đổi cho ăn khớp với chuyện và nhờ đó hậu
th mới biết đến biến cố động trời này.
·
Hồ Động
Đình được khai sinh
·
Vùng
đất Hồ Nam (phía nam hồ Động Đình) được cải danh thành Bách Việt.
·
Bách
Việt là 100 giống Việt chứ không phải 100 nước Việt
·
Bách
Việt gồm dân NGÔ và dân VIỆT hợp lại.
·
Đất
Bách Việt gồm nước Ngô và nước Văn Lang hợp lại. Tức từ phía nam con sông Dương
Tử Giang đến đèo Hải Vân ngày hôm nay. Phía tây đến tận dãy núi Hoài, biên giới
với nước Sở (vùng Tứ Xuyên ngày hôm nay). Vân Nam (danh xưng dưới thời Triệu
Đà) là vùng U VIỆT thưộc nước Văn Lang
ĐỒNG
BÀO : Ý nghĩa thâm sâu của nó:
Chữ Đồng Bào có nghĩa là cùng một bọc 100
trứng nở 100 con bình đẳng tột cùng, thân thương tột độ. Tuy anh em tâm tính
khác nhau nhưng cùng chung 1 gốc là con cháu Lạc Long và Âu Cơ nên phải đùm bọc
nhau: Phúc cùng hưởng và Họa cùng chịu. Do đó mới có câu:
Ø Bầu
ơi thương lấy Bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Giàn đây là lãnh thổ Bách Việt nếu mất với
nhà CHU thì tất cả cùng tiêu vong như con cháu Đế Nghi vậy (ngẫm lại thì không
sai)
Từ chữ Đồng Bào mới đẻ ra:
Ø Tình nghĩa anh em ăn cơm phải mời, theo
tôn ty thì lớn động đũa trước, bé động đũa sau
Khi người ta mời thì mình phải tự ý “ăn
trông nồi, ngồi trông hướng”. Nếu người ta nghèo thì ăn xong mình phải trả bữa
bằng cách này hay cách khác.
Ø Thay đổi cách xưng hô Ngộ Nị bằng vai vế
trong gia đình, dù người đó không cùng huyết thống với mình. Trong cách xưng hô
có ẩn chứa những nét tinh hoa của nền văn hóa Việt và văn minh nhân bản của con
người Việt như:
1.
Gái
góa được quyền Tái Giá, còn người Tàu thì phải Thủ Tiết thờ chồng nuôi con (biến
người đàn bà thanh côn cụ) -thuộc về văn hóa.
2.
Con
cái gọi người chồng sau của mẹ bằng DƯỢNG (chồng của DÌ), vì ông không thề
ngang vai với bố tôi được nên bà mẹ phải tụt 1 nấc thanh DÌ. Người Bố tục huyền
cũng vậy, bà sau phải tụt thanh DÌ (hái hoa hi cả cụm là th) - thuộc về văn
hóa.
3.
Tuy
được quyền tái giá nhưng phải đợi 3 năm mãn tang (hết để tang) chồng thì mới được
quyền tái giá. Vì có thể khi chồng chết thì cô đang mang thai. Cái thai này thuộc
gia đình nhà chồng, nó được thừa kế
giáo dục cũng như gia sản của bố nó nên cô phải đợi: Sinh nở xong xuôi, nuôi
cho cháu bé thôi bú thì trao lại cho nhà chồng để bước đi bước nữa. Tuy cô ra
khỏi dòng họ nhưng cô có quyền đến thăm con và gia đình bên chồng cũ. Họ coi cô
như một nguời khách quý, và cô có quyền đem chồng theo - thuộc về văn minh tinh thần
Hồi
cư sau Đại Hồng Thủy (10.000 năm lánh nạn lụt)
Ý
nghĩa của danh từ NAM VIỆT :
Triệu
Ðà dứt Thục Phán đổi Quốc Hiệu thành Nam Việt: Phía nam sông
Dương Tử là của người Việt . Danh từ Ngô không đuợc nhắc tới vì Ngô và Việt là
một, cùng sắc dân Nông Nghiệp, con cháu Lộc Tục. Đây là danh từ chánh trị .. thôi để yên Tớ
(Ngô) lãnh đạo, giống như danh từ Đồng Bào của ông Phạm Lãi và Văn Chủng khi
xưa vậy
Phía
bắc sông Dương Tử là người khác giống, họ thuộc sắc dân Du-Mục từ IRAN qua đã xâm
chiếm đất đai và tiêu diệt con cháu Ðế Nghi
Bên TÀU: Nhà TẦN từ
247BC tới 183BC
Bên TA: Thục Phán rồi
Triệu Ðà

Sau đó Lã Hậu bị ám sát, Thái Tử lên ngôi và xin giao hiếu với Triệu Ðà
BẠO CHÚA BÊN TÀU :
TỪ NHÀ CHU ĐẾN MAO
(1046BC-2018AD)
Nguồn tài liệu: Bảo tàng viện
Quốc Gia ở Đài LOAN
Theo
bảo tàng viện Quốc Gia ở Đài Loan, lẽ dĩ nhiên là nói theo tư tưởng của Tàu Tưởng,
mặc dù chống Cộng nhưng họ vẫn có đầu óc kẻ cả, thì :
Năm 2.879BC ở Giang Nam
(phía nam sông Dương Tử) đã có 3 nước: Ngô, Sở và Việt
LATE NEOLITHIE age (băng tuyết) c.a. 6200 - 2070BC CHÁNH
TRỊ VÙNG GIANG NAM
XIA (Nhà HẠ còn man rợ, chưa có nước) c.a. 2070
- 1600BC & 2.879BC lập nước VĂN LANG
SHANG (Nhà Thương 1500BCÂn: 1300BC) 1600 -
1046BC của người Việt trong Liên Bang.
ZHOU
(nhà CHU-tiếng Tàu , nhà CHÂU-tiếng Việt) HÙNG
VƯƠNG (2.879-257BC)
Western ZHOU (Tây Chu)
c.a. 1046 - 771BC Tây Giang (Hongkong)-đèo Ải Vân
Eastern ZHOU (Đông Chu) 700BC - 221BC
(Bên Tàu là Xuân Thu và 7 quốc tranh hùng)
And
Warring Stades Periodes (xuân thu/thất hùng)
Câu Tiễn
diệt Phù Sai (#600BC)
---------------------------- ------------
QIN (Nhà TẦN, Tần Thủy Hoàng Ðế) 221BC - 207BC Nhà THỤC (157BC-207BC)
HAN (nhà Hán)
Nhà
TRIỆU (Triệu Ðà, 207-111BC)
-
Werstern HAN (Tây HÁN) 206BC - 8 C.E (Triệu Việt Vương/ Vũ Ðế 181BC)
·
XIN (Mãng Vương 111BC?) 9 - 24
*Mãng Vương đánh Tràng An 111BC
-
Eastern HAN (Đông Hán) 25
- 220 chứ không phải 9AD:Trưng Vương
đánh Tô Ðịnh 40AD- Thua
Mã Viện
năm 43AD
Three Kingdom (Tam Quốc) 220 - 280 Bà Triệu (248AD), Sĩ Vương
(Nhiếp) JIN (Nhà Tấn, con Tư Mã Ý)
Giao
Châu độc lập
-
Western JIN (Tây Tấn: loạn 50 năm) 265 -
316 Giao
Châu độc lập
-
Eastern JIN (Thua nên di về Nam Kinh) 317
- 420 Giao
Châu độc lập
Northern and South Dynastie (Nam-Bắc Triều)
316–586 Giao
Châu độc lập;
SUI (Nhà Tùy) 581 - 618 nô lệ nhà Ðường (621 - 885)
TANG (nhà Đường)
618 - 907 (#800 nước Chàm chiếm tới
Đèo
ngang/Quảng Bình)
²²²ööö²²² ²²²ööö²²²
Five Dynastries and Ten Kingdom
907 - 960 Dương Diên Nghệ,
Ngô Quyền, Ðinh Bộ Lĩnh
(Ngũ Quý/NAM và Thập Quốc/BẮC) Nhà
Tiền Lê (Ðại Hành-980AD)
SONG (nhà TỐNG) :
-
Bắc Tống 960-1126 Nhà
LÝ (Lý Công Uẩn - 1010AD)
-
Nam Tống
1127-1279
--------------------------- --------------------------------
·
Dân
Tàu nô lệ ngoại chủng
YUAN (Nguyên – Mông Cổ) 1271 - 1368 Nhà
TRẦN (Trần Cảnh - 1225AD)
MING (Minh/Ngô) 1368
- 1644 Nhà HỒ (1400AD) –
Nhà hậu LÊ (LỢI-1427AD)
QING (Thanh – Mãn Thanh) 1644 - 1911 Mạc,Trịnh/Nguyễn,TâySơn,
Và
Gia Long
·
Dân Tàu nội chiến
Républic of CHINA (Tam Dân) 1911 C.E… Nô
lệ: Pháp, Việt Cộng
(Nga
và Tàu)
Chủ nghĩa TAM DÂN (Sinh, Chủ, Quyền)
do Tôn Dật Tiên (Tôn Văn, hay Tôn Trung Sơn) đẻ ra. Tôn Dật Tiên là người Hoa gốc
Việt, chánh quán ở Quảng Đông, tức vùng Lạc Việt khi xưa thuộc nước Văn Lang của
Liên Bang người Việt; theo chế độ Lãnh Vương, tức Dân Chủ Phân Quyền.





0 commentaires:
Enregistrer un commentaire
Abonnement Publier les commentaires [Atom]
<< Accueil