dimanche 6 août 2023

T77– Văn Hóa Việt Tuyệt Vời

T77(a) – Văn Hóa Việt Tuyệt Vời

Livestream Văn Hóa Thuần Việt (05.05.2022)

Soạn giả: Hoàng Đức Phương

 

Trích Yếu: VĂN MINH đáng kính và VĂN HÓA tuyệt vời của dân Việt trong cách xưng hô trong vai vế BỐ và MẸ

  ÐỒ  VAI  VẾ  TRONG GIA  ÐÌNH

                              

                                       

                                                    THẾ  HỆ  Thứ Ba

§  CON đối với Bố Mẹ                  (Con hay Cháu)

§  CHÁU đối với người thân                                                                          


²

TRƯỜNG HỢP ĐẶC THÙ:Bố và Mẹ thì bất khả thay thế

Vai vế của Bố và Mẹ thì không ai có thể thay thế được. Do đó nếu không phải là bố mẹ ruột (đẻ) thì phải gọi khác đi như là Thày và U, Chú và Thím hay Dượng và Dì, nay gọi là Tonton hay Tata; tức là giảm thân tình máu mủ đi một bậc.

Vì thế cho nên:

1.      Khi Mẹ chết, Bố đi lấy vợ khác (gọi là tục huyền. Tục huyền là tiếng Tàu, có nghiã là nối lại giây đàn đã đứt), thì các con gọi người vợ kế của bố bằng Dì và xưng là Con. Có nghiã là bà chỉ bằng vai em của mẹ tôi thôi. Thay vì xưng bằng Cháu thì xưng bằng Con cho gần hơn. Nếu bà vợ kế cay-nghiệt thì lúc đó gọi là Dì Ghẻ. Chữ ghẻ có nghiã là lạnh lùng.

·    Nếu người vợ sau không cưới, tức là sống chung bồ bịch hay vợ hai.... thì các con gọi người này bằng Chị và xưng là Tôi. Có nghĩa là bà chỉ ngang vai với chị cả của chúng tôi thôi. Nhưng đối với các con cùng cha khác mẹ thì vẫn gọi là các em, như em ruột của mình vậy. Không có danh từ em nửa vời (demi frère) như Âu Tây, sở dĩ khác là vì những đứa nhỏ này ăn theo dòng Bố nên được thăng chức.

2.      Còn nếu Bố chết, Mẹ đi lấy chồng thì gọi là tái giá. Tái là trở lại, giá là lấy chồng (tiếng Tàu). Thì các con gọi ông chồng mới này bằng Dượng và xưng Con, nếu không thân thì xưng là Tôi. Vai-vế Dượng của ông ta thì không thể bỏ đi được.

Sở dĩ gọi bằng Dượng là vì lúc đó mẹ mình bị hạ xuống một bậc thành Dì, tức là em gái của mẹ. Chồng của Dì thì gọi bằng Dượng.

 

Tái giá: Con cái cùng Mẹ khác Cha, nếu thân thiết thì gọi nhau bằng anh (hay chị) và em, còn không thì gọi nhau là Anh (hay Chị) với Tôi. Cách xưng hô này là quyền của con cái, bà mẹ không có quyền bắt chúng phải gọi thế này hay thế khác.

Ghi chú:

Văn minh đáng kính :

Rằng đời sống chỉ có một lần nên dân Việt tôn trọng đời sống của người góa-bụa nên mới có chữ TÁI GIÁ, khác hẳn với dân Tàu là góa phụ phải thủ tiết, ở vậy thờ chồng nuôi con.

Vì người Tàu con đàn bà là đồ vật mua đi bán lại đuợc. Do đó có tục thách cưới, tức mua con dâu. Khi mua rồi thì nhà chồng muốn ban cho ai cũng được, còn không thì phải ở là dâu gia đình nhà chồng.

Còn dân Việt cổ xưa thì phải ở rể 3 năm để nhà vợ coi chân tướng. Sau đó mới lấy quyết định gả hay không. Trong thời gian ở rể thì không được chuyện trò với con gái người ta. Chuyện Trọng Thủy Mỵ Châu đã nói điểm này. Sau 3 năm Trọng Thủy trở về gia đình nhà mình mà Mỵ Châu không theo vì lúc đó Trọng Thủy chưa phải là chồng Mỵ Châu.

Vì thế nên góa phụ được quyền tái giá sau 3 năm mãn tang. Nguyên nhân 3 năm là vì khi người chồng nằm xuống thì bà vợ có thể mang thai. Cái thai đó thuộc về gia đình nhà chồng, nó được thừa kế gia hong cũng như gia tài.

Do đó cô phải đợi sinh xong thì trao đứa nhỏ cho gia đình nhà chồng và cô tênh tênh như con gái đi lấy chồng khác. Ngoài ra cô được quyền về thăm con như thượng khách.

Nhưng thời đó con phải bú sữa mẹ nên cô phải lưu lại 2 năm cho con dọng-dẽo rồi mới đi lấy chồng được. Vị chi là 3 năm nên người đặt ra tang chế là 3 năm.

Đoạn này trích cuốn VĂN MINH VIỆT NAM của Lê Văn Siêu.

Văn hóa tuyệt vời :

Rằng BỐ và MẸ đẻ không ai có thể thay thế được.

1/- Khi Bố chết, mẹ đi lấy chồng thì các con gọi người chồng sau bằng DƯỢNG. Vì ông không thể nào ngang hàng với bố tôi được, và ông cũng không thể giữ vai em trai của bố tôi được ; nên bà mẹ phải tụt xuống vai DÌ, chồng của DÌ là DƯỢNG.

2/- Cũng lý luận như vậy nên khi mẹ chết bố đi lấy VỢ KẾ thì người vợ sau phải ngang với em gái của mẹ nên các con gọi là DÌ là thế

v  


Phần IV : Lịch sử thăng trầm của dân VIỆT

ĐOẠN A : Nguồn Gốc Loài Người

ĐOẠN B : Lịch Sử Thăng Trầm của dân Việt ; hiện tại và tương lai đi về đâu ?

T77(b)- Chinh phục đia cầu

Livestream Facebook Văn Hóa Thuần Việt (05 mai 2022)

soạn giả Hoàng Đức Phương

 

THAM LUẬN

Nguồn : http://Journey of mankind / setephen oppenheimer 2003

EDEN IN THE EAST = ĐỊA ĐÀNG PHƯƠNG ĐÔNG (miền đất Đông Á Châu)

 

Chủ đề:

NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI

TƯƠNG LAI CON CHÁU ĐI VỀ ĐÂU? 

Chúng ta phải làm gì để tránh thảm họa cho con cháu như thế hệ 1945 đã xa lánh chánh trị để chúng ta gánh chịu thảm hoạ ngày hôm nay.

Ø  Đó là mục đích của buổi hội thảo ngày hôm nay.

BÀI  THAM  LUẬN

NGUỒN GỐC THẢM TRẠNG NGHỊCH LÝ:

NHẬN XÉT:

Dưới thời nô lệ người Pháp, họ bắt chúng ta phải xóa bỏ chữ Tàu và chữ Nôm để thay thế bằng chữ Quốc-ngữ được ca tụng là tân tiến đã làm con cháu đoạn tuyệt với tiền nhân; vì chỉ đọc được tư tưởng người dịch chứ không đọc được tư tưởng của tác giả.

Vì thế nên: Thế hệ 1945 đã lạc hồn dân tộc nên xa lánh chánh trị; do đó Việt Cộng mới nhảy vô cướp linh hồn và tài sản của chúng ta.

Điều này cụ Phan Bội Châu đã có bài "Đề Tỉnh Quốc Dân Hồn", trường Đông Kinh Nghĩa Thục (Hà Nội) đã có nhiều bài "Chiêu Hồn Nước"…. Xin hồn hãy tỉnh đừng mê, tỉnh ra rồi mới liệu bề khuyên nhau…Sự học ta lấy làm đầu, công thương mọi việc liệu sao tính dần…(học làm người; tức môn Việt Giáo: Giáo lý học làm người Việt tốt đã bị Gia Long cấm vì "Nôm Na là Cha Mách Quẻ) 

Nay Việt Cộng lại cho phát súng ân huệ để con cháu quên nguồn đặng còn biết ơn Cộng Đảng Quốc Tế : Thương biết mấy khi con học nói, tiếng đầu lòng con gọi STALINE (Tố Hữu)

Ø  Làm cha mẹ thì không ai muốn con cái trở thành kẻ mất gốc cả; vậy chúng ta phải làm gì để tránh cái nhầm của thế hệ 1945? Đó là mục đích của buổi hội luận ngày hôm nay.

BẰNG CHỨNG :

Một bằng chứng mà ai cũng biết, nhưng không ai để ý tới là: Cuốn Việt Nam Sử Lược của cụ Trần Trọng Kim đã góp phần không nhỏ trong việc đầu độc thế hệ 1945.

Cụ đã tự ý sửa câu văn của Quốc Sư Nguyễn Trãi để  hạ thấp dân mình xuống vì cụ nghĩ rằng người Việt ươn hèn chỉ thích nô lệ người Tàu mà thôi – sách giáo khoa Việt Cộng cũng cùng luận điệu như cụ, bóp méo sự thật.

Cụ là người nho học uyên thâm mà còn làm như thế; vậy thì người khác tránh sao được sai nhầm do ít kiến thức mà ra. Do đó đọc sách dưới thời nô lệ phải thận trọng lắm mới được.

Đó là lý do thúc đẩy chúng tôi đã mở lớp dạy Văn Hóa Thuần Việt để huấn luyện học viên :

1.      Cách thẩm định giá trị tài liệu (tỷ dụ: Giá trị cuốn sử Trần Trọng Kim tới đâu?)

2.      Cách tiếp cận trực tiếp tư tưởng người xưa mà không cần qua bất cứ tài liệu trung gian nào cả. Tỷ dụ: Người Văn Lang (2.879BC) dạy ta cách xây dựng xã hội bó đũa ra sao?

3.      Cách đọc thông điệp ký thác trong chuyện huyền thoại. Tỷ dụ : Cha Lạc Long dạy ta Học Thuyết cứu Nước ra sao?

4.      Cách làm đề án để giải quyết vấn nạn đương thời sao cho có sự hưởng ứng của toàn dân.

---------------------------------

Thật vậy; trong bài Bình Ngô Đại Cáo có 2 câu khai pháo đầy hùng khí như sau mà cụ dịch bậy (mặc dù đó là bản dịch của cụ Bùi Kỷ) nên thế hệ 1945 cho rằng Ta nô-lệ Tàu 1.000 năm, trong khi ông Nguyễn Trãi bảo không, và nay Bắc Kinh cũng nói như ông Nguyễn Trãi….

Nay không ít người trong chúng ta cứ đinh ninh là Ta Nô Lệ Tàu 1.000 năm; ai nói ngược thì cho là ái quốc cực đoan mà không thèm nghe họ giải thích. Nô lệ tư tưởng nguy hiểm như vậy đó! Không những mất nước và mất mạng như không, mà còn để di lụy cho hậu thế nữa!

Ông Nguyễn Trãi viết:

DUY NGÃ ĐẠI VIỆT CHI QUỐC,

THỰC VI VĂN HIẾN CHI BANG.

Dịch cho thoát ý thì phải như sau mới đúng:

Ø  Chỉ có nước Đại Việt của ta, thực sự đi vào từng tiểu bang một, tất cả đều có nền Văn Hiến (Hiến Pháp) NHÂN BẢN của loài người. …..

Còn nưóc mi là văn hiến của loài thú, ỷ mạnh hiếp yếu.

Cụ dịch là:

Như nước Việt Ta từ trước,

Vốn xưng Văn Hiến đã lâu

(Ơ hay, người ta xưng Đế, xưng Vương chứ có ai xưng Văn Hiến bao giờ đâu!

² 

Ông Nguyễn Trãi viết:

Tự TRIỆU ĐINH LÝ TRẦN chi triệu tạo ngã quốc,

Dữ HÁN ĐƯỜNG TỐNG NGUYÊN nhi các đế nhất phương.

Dịch cho thoát ý thì phải như sau mới đúng:

Ø  Từ nhà TRIỆU, nhà ĐINH, nhà LÝ, nhà TRẦN,

Ø  Cùng nhà HÁN , nhà ĐƯỜNG, nhà TỐNG, nhà NGUYÊN mỗi nhà hùng cứ một phương.

Ấy thế mà cụ tự ý bỏ phăng nhà TRIỆU đi và thay thế bằng nhà LÊ, do đó dân Việt cứ tin chắc là lịch sử Việt bắt đầu từ nhà ĐINH.

Vậy thì: Ta nô lệ Tàu 1.000 năm là đúng quá rồi; ta từ Tàu mà ra là vậy đó. Trong khi đó thì TÀU không có tên dân tộc nên ta gọi là TÀU Ô (ô hợp); văn hóa Tàu lại từ Việt mà ra

            Chỉ vì cụ cho Triệu Đà là Tàu nên dịch là:

Từ Đinh Lê Lý Trần gây nền độc lập,

Cùng Hán Đường Tống Nguyên hùng cứ một phương

²

NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI:

Theo tài liệu phổ biến vào năm 2003 của giáo sư Stephen OPPENHEIMER thì con người có mặt trên trái đất từ 4 triệu năm nay. Lấy năm Chúa sanh làm mốc thời gian thì người ta chia ra làm 5 giai đoạn như sau cho dễ nghiên cứu.

1.      NGƯỜI VIỄN CỔ:

Từ 4.000.000 năm tới 1.000.000 năm gọi là người VIỄN CỔ hay người VƯỢN, vì tay dài (từ 4 triệu đến 1 triệu).

2.      NGƯỜI THÁI CỔ :

Từ 1.000.000 năm đến 100.000 năm gọi là người THÁI CỔ (từ 1 triệu đến 100 ngàn)

3.      NGƯỜI THƯỢNG CỔ:

Từ 100.000 năm đến 40.000 năm là người THƯỢNG CỔ (từ 100 ngàn đến 40 ngàn)

4.      NGƯỜI HIỆN ĐẠI : Tức chúng ta đó.

Từ 40.000BC đến 2.000AD, còn gọi là người ĐỨNG THẲNG, tức người Homo Sapien Sapien.

5.      NGƯỜI TƯƠNG LAI tức con cháu chúng ta; tinh khôn và cao lớn hơn chúng ta:

 

·        Từ giai đoạn nọ bước sang giai đoạn kia theo tiến trình tiệm tiến chứ không phải đột biến như trong hình vẽ đơn sơ ở trên

²

SỰ  PHÁT  TRIỂN  CỦA    HỘI  LOÀI  NGƯỜI

 


Vì nhu cầu đi lang thang kiếm ăn nên con người di hành trên khắp mặt đất. Nhìn vào sự di hành theo thời gian thì người ta biết được là con người đã trở nên bất trị vào năm 65.000BC. Lúc đầu bị cầm tù ở vùng nhiệt đới vì da mỏng lại không có lông, nhưng khi biết dùng lửa để sưởi ấm nên sống được ở vùng ôn đới…. Mãi về sau biết cách tự túc mưu sinh nên mới sống được ở vùng Hàn đới.

Dựa vào những khám phá mới (2003AD) thì:

Từ ngày con người xuất hiện trên trái đất (4 triệu năm BC) cho đến lúc biết cách dùng lửa để có thể sống trong vùng ôn đới (75.000BC) thì đời sống rất là cơ cực hơn loài thú (hữu sinh vô dưỡng)

Phải đợi đến khoảng 23.000BC thì loài người mới biết làm đồ gốm để luộc tôm cá và ngũ cốc nên đời sống bắt đầu có tương lai. Đồ gốm là đồ làm bằng đất nung như bát đĩa, chum vại, gạch ngói ….

Ø  13.000BC là lúc con người biết cách trồng trọt, cầy cấy để tự túc mưu sinh thi đời sống bắt đầu được bảo đảm; nhưng chưa biết lý do thất thu vì chưa biết phải trồng theo thời tiết (mùa).

Ø  11.000BC là lúc biết tính lịch theo vị trí ngôi sao chuẩn vào giữa đêm thì mới biết định mùa để gieo mạ, đời sống sung túc nên tăng gia sinh sản; rồi đưa đến chiến tranh để tự hủy diệt cho tới ngày hôm nay. Con người có hạnh phúc mà không biết hưởng, chỉ vì lòng tham không đáy. Hưởng tới đâu cũng chưa đủ; mặc dù văn hóa có phát triển nhưng chưa đủ sức để kìm hãm lòng tham: THAM THÌ THÂM, BỤT ĐÃ BẢO THẦM RẰNG CHƠ CO THAM mà không nghe.

Đó chính là bài toán cần phải giải quyết rốt ráo để tránh nạn tận thế cận kề.

·        Người hiện đại là con người biết cách tự sáng tạo ra thực phẩm nên có nếp sống tập thể.  Nay chúng ta gọi là Văn Hóa và chia ra làm 9 thời đại văn minh như sa


















LỜI MỜI TIẾP TAY VIẾT SÁCH GIÁO KHOA

Trích biên bản ngày thành lập Ban Giảng Huấn Việt Tộc

Nơi họp: 3 place Charles Michels   75015 Paris ngày 23 Mai 1990

-------------

Đôi  lời  phi  lộ:

Xét rằng: Vấn-đề xây-dựng tư-tưởng các em Thiếu-Nhi và Thiếu-Niên là việc cần phải làm ngay. Tương lai dân tộc nằm trong tay các thế hệ này.

Chúng ta ai cũng biết: Ý chí phát sinh ra hành động, nhưng tư-tưởng lãnh đạo hành động. Tư-tưởng sai lệch thì nguy hại khôn lường.

NẾU:  Chúng ta không muốn dân Việt tiếp tục kéo lê kiếp sống lầm-than nô-lệ từ thế-hệ này qua thế-hệ khác,

THÌ :  Vấn đề khai trí cho dân phải đặt lên hàng đầu.

Bằng không thì vô tình chúng ta huấn luyện nhân-tài để Tàn-phá Quê-hương, Nhục-mạ Tổ-tông

·        Điều này, Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa miền Nam nước Việt đã làm

·        Nay con em chúng ta phải gánh chịu thảm trạng.

Bằng cớ điển hình là trong khi toàn dân miền Nam phải hy-sinh, ra sức ngăn chặn làn sóng đỏ Cộng Sản thì những thành phần ưu tú lúc đó, ở lứa tuổi 19 đôi mươi đã được ung-dung và thênh-thang du học nước người. Với hoài-bão hấp-thụ nền văn-minh Khoa-học và Kỹ-thuật của người để sau này kiến tạo đất nước.

Ngày nay, thành phần này đã thành đạt đúng như ý nguyện, và đang ở lứa tuổi lãnh-đạo Quốc-gia (trên dưới 40 tuổi). Trong số này đã có một phần ngang-nhiên quỵt nợ dân tộc, đi theo Cộng Sản để Tàn-phá Quê-hương mà cứ ngỡ là xây dựng.

Sở dĩ vậy là vì chúng chưa ý thức được: Nô-lệ Văn Hóa, nô-lệ Tư-tưởng là nô-lệ từ trong Tâm-tư nô-lệ ra. Bỏ ta theo Người là Mất gốc (vong-bản).          

Chúng chưa phân biệt được Vong-bản, Vong-thân với Thức-thời, Tân-tiến.

Sở dĩ có tình trạng oái-oăm này là vì chúng không được theo học khóa huấn luyện căn bản về Tâm Việt, Hồn Việt và học thuyết Việt Tộc trước khi lên đường theo đòi văn-minh vật-chất. Tức là chưa học đạo làm người Việt trước khi huấn-luyện chuyên môn nghề-nghiệp, nên nay trở thành hữu tài nhưng vô dụng.

Nhìn tấm gương này, chúng ta hãy cố gắng đừng để con em chúng ta rơi vào trạng thái dở khóc dở cười:

Ø  Ra sức tàn phá quê-hương mà cứ ngỡ là xây dựng.

Ø  Ra sức sát hại đồng-bào mà cứ ngỡ là giải phóng.

Vì những lý do này, nóm chúng tôi mới quyết định thnh lập Ban Giảng Huấn Việt Tộc với trách nhiệm soạn thảo bộ sách Giáo Khoa Văn Hóa Thuần Việt để cung ứng cho nhu cầu hiện tại.

 

§  Vạn sự khởi đầu nan, xin mọi người tiếp tay với chúng tôi để làm cho bộ sách này thêm phong phú.

                                                               Ban Giảng Huấn Việt Tộc kính mời

 

 

T78 Xưng Hô độc đáo

T78(a) Xưng Hô độc đáo

Livestream ngày 12.05.2022

soạn giả: Hoàng Đức Phương

QUY LUẬT XƯNG HÔ

TRƯỜNG HỢP BIẾN DẠNG

Đây là trường hợp đặc biệt, bắt buộc phải dùng đến chức vụ trong xã hội, hay giao tế trong cộng đồng để nói một cách chung chung hợp với tất cả mọi người.

A/- Phép xướng danh (trước đám đông) :

Xưng thay cho tập thể hay dùng chính tên mình để xưng.

Trường hợp một giáo sư về âm-nhạc lên trình diễn trên sân khấu. Ở dưới cử tọa đủ mọi thành phần, Già có, Trẻ có, Nam có, Nữ có, Thày có mà học trò của giáo sư cũng có.

·        Về cách hô cho một cộng đồng đa dạng thì dễ. Có thể dùng chữ quý vị, hay toàn thể khán thính giả hay đồng bào thân mến. Đó là hô theo vị-thế.

·        Còn xưng thì không có vai-vế nào hợp cả. Tức là xưng Tôi, Em, Chị, Con, Cháu đều không tiện cả. Vậy thì bắt buộc phải xưng tên, nghĩa là nói thay cho người vắng mặt.

Tỷ dụ : Giáo sư có danh hiệu là Xuân Sắc, thành lập ban nhạc là Trâu Đen trong hội Bông Lan chẳng hạn, thì lúc đó bà ta có thể nói : «  Kính thưa quý vị, Xuân Sắc xin cống hiến nhạc phẩm .. hay là ban nhạc Trâu Đen xin hiến quý vị… hay là hội Bông Lan xin giới thiệu với quý vị nhạc phẩm…. do ban nhạc Trâu Đen trình diễn.

-----------------------

Xin giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này được phong phú.
http://nhanvanviettoc.blogspot.com  là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com  là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm) từ Tiểu Học đến Trung Học.
Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương
(chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)

SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ (Đủ Bộ) https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ (Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph

Kênh  Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ vô máy.

---------------------------------------------------                        

T78(b) Thay đổi NẾP SỐNG

Livestream ngày 12.05.2022

soạn giả Hoàng Đức Phương

Câu hỏi căn bản là;:

Tại sao con người lại phải phát triển không ngưng nghỉ bộ não của mình ?

LÝ DO là : Nguyên nhân làm thay đổi nếp sống (tức Văn Hóa) là sự sáng chế ra đồ dùng mà ta gọi là VĂN MINH.

VĂN MINH :

Văn Minh là óc sáng tạo đồ dùng sao cho cuộc sống đỡ vất vả.

Vốn của văn minh là TOÁN.

·        Văn Minh phát triển thì não trạng cũng phải phát triển theo, còn không thì tiêu vong vì TỤT HẬU

·        Vì thế nên chúng ta phải biết quy luật phát triển của XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI :

Cuộc sống mung-lung

·        Thời kỳ đồ đá cuội, chưa biết dùng lửa (100.000BC – 80.000BC)

·        Thời kỳ đồ đá ghè, biết cách lấy lửa nhưng chưa biết dùng (80.000BC - 65.000BC)

Cuộc sống tư chủ

1.      Thời kỳ phát triển - #65.000BC : Biết dùng lửa để có thể sống nơi xứ lạnh (ôn đới).

2.      Thời kỳ đồ gốm - #23.000BC: Biết dùng lửa để nung đất thành đồ dùng. Ngày hôm nay chúng ta vẫn dùng đồ gốm; nhưng tinh xảo hơn xưa.

3.      Thời kỳ Nông Nghiệp - #13.000BC : Tự lực mưu sinh (có cuộc sống quần cư), vì biết tạo ra nông sản và chăn nuôi để bảo đảm cuộc sống.

Hai ngàn năm sau mới biết tính lịch (11.000BC), sau đó phải đợi 1.000 năm nữa mới có lý luận về Triết (10.000BC). Triết là sự vận hành tự nhiên của vạn vật, nó nằm trong danh từ Lý Dịch.

4.      Thời kỳ đồ ĐỒNG, #4.000BC : Lập quốc để đánh nhau cướp của và bắt nô lệ.

- Vì nhu cầu phát minh ra dụng cụ nên đẻ ra danh từ Đồng Hồ: Hồ nước bằng đồng dùng để đo thời gian (trở về quê cũ vào 3.400BC, là lúc nước rút và giữ nguyên trạng cho tới nay)

5.      Thời kỳ đồ SẮT - #2.000BC : Thời Hùng Vương (2.879BC), nhà Hạ (1.700BC)

6.      Thời kỳ đồ THÉP (khoảng 550BC) - Khổng Khâu đẻ ra thuyết Thiên Mệnh, đó là thời có cưa và dao cứng để cưa tre, chẻ lạt đan mành mành để viết lên trên, rồi cuốn lại và xách đi nên gọi là cuốn sách

Đến năm 257BC thì biết làm nỏ Liên Châu, bắn đi một phát dăm bảy cái tên quý bằng đồng mà người xưa gọi là Nỏ Thần

7.      Thời kỳ KỸ NGHỆ, là thời kỳ Tây Phương biết sáng tạo ra máy móc để thay cho cơ bắp nên gọi là thời kỳ phát triển công nghiệp (#1600AD). Sức mạnh của hơi nước (chaudière) do ông Denis PAPIN sáng chế vào năm 1690AD. Cái vốn của sáng tạo là TOÁN học phát triển.

8.      Thời kỳ NGUYÊN TỬ (1945AD) có vào khoảng thập niên 30 (1930). Trên lý thuyết thì nhóm F. JOLIOT CURIE ở Paris để bằng sáng chế lò điện Nguyên Tử ở Paris vào tháng MAI 1939, chạy bằng URANIUM 235 tinh luyện 20%.

Ø  Hitler biết nhưng không dám phiêu lưu làm bom Nguyên Tử vì nghèo. Sau này người Mỹ áp dụng làm nhà máy điện nguyên tử, và thành công vào tháng décembre 1942 ở Chicago, sau đó áp dụng ngay vào làm bom nguyên tử nên lấy thời điểm là năm 1945; vì nước Nhật lãnh 2 quả bom Nguyên Tử ở Hiroshima (6/8/1945) và Nagasaki (9/8/1945).

9.      Thời kỳ ĐIỆN TỬ bắt đầu từ năm 2.000 trở đi.

Sự thực thì máy điện toán đã có từ 1960, nhưng chưa tinh xảo nên người ta tính từ năm 2.000AD trở đi là lúc kỹ nghệ nylon, kỹ nghệ truyền thông phát triển.

Nhìn người mà nghĩ đến ta:

Hiện nay loài người đang sống ở thời kỳ điện tử với tia LASER, tức là đang sống ở trên 9 từng mây; còn dân ta thì đang sống ở thời đại đồ đểu, lấy sự láu-cá phá-hoại làm lẽ sống chụp giựt, nên đi đâu cũng bị loài người xếp ngang hàng với thú vật.

Nên nhớ là : Nhà cầm quyền Việt Cộng chỉ có thể kìm hãm bước tiến của dân tộc, chứ họ không đủ khả năng để kìm hãm sự phát minh khoa học. Đo đó dân tộc nào tụt hậu thì chỉ có nước tiêu vong mà thôi; lúc đó thì đảng cầm quyền cũng đi luôn vì họ chỉ là những con sâu ăm bám để tàn phá cơ thể. Khi cơ thể đi đến chỗ chết thì họ cũng chết theo.

Đây là điều đáng để mọi người suy nghĩ, ai cũng có trách nhiệm vực dạy sức sống của dân tộc, nếu còn nghĩ rằng mình là người Việt.

Tổ tiên chúng ta đã dạy: Thà làm Đầy Tớ thằng khôn còn hơn làm Thày thằng ngu.

Ø  Lãnh đạo Việt Cộng không tên nào qua khỏi Tú Tài vậy tại sao lại có người tình nguyện chết cho chúng sống nhỉ?

Đây nhé:

Hồ Chí Minh là cái tên giả, không cha không mẹ nên dấu nhẹm tiểu sử (con rơi), không làm lễ nhậm chức và cũng chẳng thèm hứa hẹn chi với dân cả. Vậy tại sao lại có người có thể gán cho hắn (và cái đảng lưu manh, láu-cá) cái danh từ yêu nước, thương dân nhỉ?... Họ có còn tư duy độc lập hay không ?

¾

sơ đồ : Thay Đổi Nếp Sống

cập nhật theo văn minh khoa học, tụt hậu là tiêu vong

(vòng xoáy đi lên ; mỗi nấc thang là 1 lần thay đổi cách sống)

Thiết kế: Hoàng Đức Phương

Paris  28/5/2008 Hiệu Chính:17/3/2021


·        Chính tay mình vẽ lại sơ đồ này 5 lần cho nhập tâm thì bài học mới có kết quả tốt.

Theo sơ đồ này thì ta thấy rằng: Xã hội loài người thăng tiến không ngừng là do phát minh khoa học, không phát triển sẽ tiêu vong.

Ø  Sáng chế ra cái mới thì không bao giờ ngừng và đủ cả.

Vì thế nên chúng ta cần phải hiểu rõ rằng: Sơ đồ thay đổi nếp sống là một vòng xoáy đi lên, nếu theo không kịp thì sẽ bị tụt hậu và tiêu vong theo luật đào thải bất biến.

·        Khi nắm vững sự phát triển không ngưng nghỉ của khoa học rồi thì chúng ta mới có thể đưa ra học thuyết thoát hiểm để tiến bằng người được. Không biết là đấu võ mù!

·        Nếp sống là tiếng Việt,Văn Hóa là tiếng Tàu, danh từ của ông PhạmQuỳnh vào thập niên 1930. 

·        Mỗi tầng là một thời đại mới đi từ: Mung-lung, biết cách dùng lửa, đồ gốm, đồng đồng, đồ sắt, đồ thép, kỹ nghệ, nguyên tử và nay là thời điện tử thì dân ta lại sống thụt lùi trong thời kỳ đồ đểu, lừa lọc, dối trá, điêu ngoa, ….….cái giá phải trả là : Thế giới coi khinh!

--------------------------------------

T79 – Xưng Hô biến dạng

T79(a) – Xưng Hô biến dạng

Livestream ngày 19.05.2022

soạn giả Hoàng Đức Phương

TRƯỜNG HỢP BIẾN DẠNG

Đây là trường hợp đặc biệt, bắt buộc phải dùng đến chức vụ trong xã hội, hay giao tế trong cộng đồng để nói một cách chung chung hợp với tất cả mọi người.

Phép Quân Giai (trong quân ngũ):

Vì nhu cầu kỷ-luật gây sức mạnh, lệnh trên thì phải thi hành nên những người trong quân đội vẫn gọi nhau theo cấp bực. Đây là xưng hô theo đẳng trật Quân Giai trong gia đình Binh Lực. Có trên có dưới hẳn hoi, nhưng trên dưới theo cấp bậc (tức học hàm) chứ không theo tuổi tác.

Phép Vong Niên (nấc thang tinh thần):

Vì nhu cầu sinh hoạt và đã thề sống chết có nhau nên những người trong gia đình tinh-thần sau đây gọi nhau bằng danh xưng của ý chí:

·        Những người trong cùng một tổ chức chính trị, hay đấu tranh vẫn gọi nhau theo lý tưởng chung của tổ chức như là đồng chí, chiến hữu,....... như vậy là gạt bỏ tuổi tác và vai-vế ra ngoài. Đây là tinh thần bình đẳng, ai cũng giống nhau theo giá trị tinh thần. Tất cả đoàn viên đều thuộc cùng một gia đình; đó là gia đình dấn thân cho hạnh phúc của dân tộc, và họ đã thề nguyện sống chết có nhau.

¾

Xin giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này được phong phú.

http://nhanvanviettoc.blogspot.com  là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com  là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm) từ Tiểu Học đến Trung Học.

Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)

SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ  (Đủ Bộ) https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ (Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k

SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph
ØKênh  Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ vô máy.

T79(b) – Con người tương lai

Livestream ngày 19.05.2022

soạn giả Hoàng Đức Phương

CON NGƯỜI TƯƠNG LAI SỐNG RA SAO ?

Trong thực tế thì khoa ĐIỆN TỬ bắt đầu có từ năm 1930, nhưng phải đợi mãi đến năm 1960 mới phát triển được, tức chập chững biết đi chứ chưa biết chạy, biết nhảy, nên người ta lấy năm 2.000AD trở đi làm thời điểm thay đổi; vì lúc này kỹ nghệ nylon, kỹ nghệ truyền thông mới bước sang thời kỳ phát triển.

Do đó con cháu chúng ta sinh sau năm 2.000BC đều thuộc loại con người trong tương lai, từ cách ăn ở đến cách suy nghĩ đều sẽ khác hẳn chúng ta; vì dụng cụ chúng dùng không giống chúng ta.

Chúng khôn hơn chúng ta, chúng cao lớn và khỏe mạnh hơn, chúng sống lâu hơn chúng ta….

Tỷ dụ: Lúc đó gắn máy triệt tiêu hấp lực thì chúng có thể bay cao và phóng nhanh như tên bay chẳng hạn, vì sức đẩy vẫn thế nhưng người thì nhẹ chỉ bằng 1/10 mà thôi. Đó là cuộc sống vật chất trong tương lai. Chúng ta không lạm bàn, mà hãy bàn về cách giáo dục để:

Ø  "Làm sao chúng phát huy được những nét tinh hoa của nền Văn Hóa Thuần Việt trong tương lai là điều chúng ta quan tâm chăm lo dạy dỗ chúng từ tuổi ấu thơ".

Muốn tồn tại thì chúng ta phải giải quyết vấn đề tụt hậu là tiếng chuông báo hiệu sự tiêu vong cả dân tộc.

Coi sơ đồ Biến Thái Văn Hóa thì rõ: Cuộc sống là một vòng xoáy đi lên, dân tộc nào không cố gắn theo thì sẽ trở thành lạc hậu và bị đào thải như 16 sắc dân ở Đài Loan ngày hôm nay chẳng hạn

Ø  Dân Việt cũng nằm trong tình trạng đó, nếu ta không cố gắng phát huy những nét tinh hoa của nền văn hóa Rồng Tiên cho con cháu chúng ta ngay từ bây giờ.

Dân Việt khác với 16 sắc dân bản địa Đài Loan ở chỗ là: Dân ta đã từng có văn minh và văn hóa cao, nhưng vì lơ-là nên tụt hậu; còn thổ dân ở Đài Loan tuy có lịch sử 10.000 năm an bình đấy, nhưng vì là ốc đảo nên chưa hề tiếp cận với xã hội văn minh ở lục địa bao giờ cả.

Ø  Đó là điều đáng để thế hệ chúng ta suy nghĩ, kẻo hối không kịp!

Ø  Đừng quên rằng chúng ta là thế hệ đã làm mất nước, vì hấp thụ nền giáo dục sai lầm.

²

KẾT LUẬN

Theo phân tích ở trên thì ta thấy là: Xã hội loài người luôn luôn biến hóa là vì phát minh khoa học làm thay đổi nếp sống và cách suy nghĩ của con người.

Ø  Mà sáng chế ra cái mới thì không bao giờ ngừng và đủ cả.

Do đó chúng ta cần phải hiểu rõ rằng: Sơ đồ thay đổi cách sống là một vòng xoáy đi lên, nếu theo không kịp thì sẽ bị tụt hậu và tiêu vong theo luật đào thải bất biến của vạn vật.

Ø  Thiên hạ đang ở trên 9 tầng mây mà dân ta sống thụt xuống thời đại đồ đểu, lấy lưu manh, lau cá, lừa bịp làm châm ngôn thì tất sẽ bị đảo thải.

Khi nắm vững sự phát triển không ngưng nghỉ của khoa học rồi thì chúng ta mới có thể đưa ra học thuyết thoát hiểm để tiến bằng người được. Còn không là đấu võ MÙ !

[

Hiện nay dân Việt chỉ có một lối thoát cuối cùng và duy nhất là hãy mau mau xây dựng lại VIỆT GIÁO, tức CHIÊU HỒN DÂN VIỆT.

Việt Giáo là học làm người Việt tốt. Môn học này đã bị cấm từ thời Gia Long (1802) đến nay để thay thế bằng chưong trình ngu dân: Tự ti, mặc cảm, vọng ngoại cầu an như thế hệ 1945. Vì thế hệ 1945 xa lánh chánh trị nên nay chúng ta mới gánh chịu mọi hậu quả nghịch lý như vầy.

Nay nếu chúng ta buông suôi thì con cháu chúng ta sẽ phải trả món nợ Lạc Hồn Dân Việt nhiều hơn và nặng hơn. Đến khi trả không nổi thì sẽ tiêu vong, sống ở đâu cũng bị xóm giềng khinh ghét.

Đó là quy luật đảo thải bất biến của vạn vật. Món nợ khác thì còn quỵt được, nhưng món nợ LẠC HỒN DÂN TỘC không trả chỉ có nước tiêu vong mà thôi

Việt học gồm 3 môn là:

1)- Việt Giáo,          2)-Việt Đạo,         3)-Việt Triết.

Ba môn học này thì chính người Việt phải tự soạn ra để dạy dỗ con cái của mình, không thể nhờ ông Tây bà Đầm hay một vị ngoại chủng nào làm thay cho chúng ta được, vì:

·        VIỆT GIÁO:

Việt giáo là: Giáo lý học làm người Việt tốt mà việc đầu tiên là phục hồi Tâm Việt để có ý chí dấn thân cho đất nước, và Hồn Việt là chất liệu để kết hợp dân tộc. Tâm Việt và Hồn Việt nó nằm trong con người Việt chứ không nằm trong con người ngoại chủng.

·        VIỆT ĐẠO:

Việt đạo là: Con đường đi chung của tập thể người Việt. Việt đạo cần sự vun xới của Việt Giáo. Không có Việt Giáo thì không có Việt Đạo; ngược lại thiếu Việt đạo thì Việt Giáo vẫn phát huy được.

·        VIỆT TRIẾT:

Việt triết là: Triết lý sống của tập thể Việt, ngày xưa gọi là nếp sống (vật chất và tinh thần) năm 1930 cụ Phạm Quỳnh gọi là Văn Hóa. Văn Hóa là thay đổi cách sống cho hợp thời một cách đẹp đẽ (Hóa là Phong Hóa; HÓA là biến đổi; còn PHONG là cách sống và cách suy nghĩ)

Việt Triết cần Việt Giáo hướng dẫn. Không có Việt Triết thì Việt Giáo vẫn có thể phát triển được.

Có Việt Giáo toàn hảo mà không có Việt Đạo và Việt Triết thì con người sẽ lẻ loi, cô đơn; vì vậy phải phát huy trọn bộ theo sơ đồ ở dưới.

Tổ tiên chúng ta vẫn dạy: Tiên học Lễ, hậu học Văn. Lễ là môn Việt Giáo đó.

Muốn bảo vệ tự chủ của tập thể (từ tổ chức đến dân tộc) thì phải giải quyết 2 vấn đề sau đây:

A.    Khó khăn nội tại, nghĩa là phải giải quyết xung khắc sắc tộc và hận thù phe nhóm. Cái này cần đến Việt Đạo.

B.     Khó khăn ngoại lai: Thêm bạn bớt thù. Cái này cần đến Việt Triết


Dự án xây dựng sự tự chủ của Cộng Đồng Hải Ngoại

Muốn xây dựng Cộng Đồng Văn Hóa Rồng Tiên, thì tiến trình như sau:

·        Tổ chức đại hội Văn Hóa Thuần Việt vào ngày mồng một tháng Giêng Việt Lịch (28/02 – 6/03)

·        Tổ chức hội thảo về sinh hoạt chánh trị 3 lần một năm (lấy bài vở của lớp Văn Hóa Thuần Việt)

·        Tổ chức buổi họp hàng tháng của Ban Chấp Hành đểu điều hợp sinh hoạt cộng đồng

·        Tổ chức vườn trẻ hàng tuần để các em có dịp sinh hoạt trong bàu không khí Việt (lấy thù lao, cấp học bổng cho gia đình khó khăn)

·        Mở lớp Văn Hóa Thuần Việt hàng tuần cho thanh thiếu niên (lấy thù lao và phát sách, cấp học bổng cho gia đình gặp khó khăn) - lấy bài vở của lớp Văn Hóa Thuần Việt

Kêu gọi các nhà hảo tâm đóng góp tài chánh. Kiểm soát chi tiêu dành cho những nhà hảo tâm theo một tiêu chuẩn nào đó.

ö

Xin giới thiệu với quý vị 3 đường dẫn sau đây, và kính mời các vị hiền tài tiếp tay cho chương trình này được phong phú.

http://nhanvanviettoc.blogspot.com  là nơi lưu trữ tài liệu để soạn bài về Văn Hóa Thuần Việt
http://vanhoathuanviet.blogspot.com  là nơi lưu trữ các bài đã soạn xong cho chương trình NHÂN VĂN VIỆT TỘC (10 năm) từ Tiểu Học đến Trung Học.

Nơi lưu trữ 3 kinh nhật tụng
1. Bạch Hóa Huyền Sử thời Hùng Vương (chỉ cách tìm hiểu lịch sử qua di vật để lại)
2. Giáo Khoa Việt Tộc mang số VHV (các bài giáo khoa Việt Tộc cho trẻ 8-18 tuổi)
3. Kiến Thức Đấu Tranh mang số TNT (bổ xung kiến thức cho các nhà đấu tranh)

SÁCH BẠCH HÓA HUYỀN SỬ  (Đủ Bộ) https://drive.google.com/drive/folders/1dRxNGeSDpLTB_nMJz1ijcYBHMeYybi-a
SÁCH TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ (Còn Thiếu TNT20)
https://drive.google.com/drive/folders/1o42Y-S1hMkeaE5j0DYaADKKSGdVNxk0k
SÁCH VĂN HÓA THUẦN VIỆT (ĐỦ BỘ)
https://drive.google.com/drive/folders/1MT4oJOVKJEYqKznzZpVcQKw4vO9eX_Ph

ØKênh  Youtube LỚP VĂN HÓA THUẦN VIỆT
https://youtube.com/channel/UCULpEh5Yp-0ScjvcmzadBhQ là nơi lưu trữ các livestream đã phổ biến và đã chuyển qua MP4 để quý vị lưu trữ vô máy.

²                 


·        Đây là lộ trình giáo dục phải theo thì toàn dân mới có đủ khả năng bảo vệ sự tự chủ của mình được.

·        Việt Lực được suy ra từ lời căn dặn của cha LẠC LONG. Sơ đồ này là chuyển ý từ thông điệp Rồng Tiên khai quốc: 100 trứng, 100 con. Chuyện Rồng Tiên khai quốc là học thuyết căn bản của khoa nhân văn Việt tộc.

Chuyện Rồng Tiên được dựng lên do nhu cầu chánh trị mà 2 ông Phạm Lãi, Văn Chủng đã lồng trận đánh ‘diệt Ngô Đại Cáo’dưới dạng Huyền Thoại ở thời điểm chưa có chữ viết (#600BC), để đem thông điệp cứu nước và giữ nước cho hậu thế noi theo.

ü  Huyền thoại chỉ là phần chuyên chở thông điệp. Thông điệp là triết lý của câu chuyện. Muốn hiểu thì phải dùng tư duy huyền thoại.

ü  Xin coi thêm Đặc San Huyền Thoại với chủ để : Bạch hóa huyền sử thời vua Hùng (2.879BC-250BC) bằng các di vật ngời Văn Lang để lại (Nhóm Nhân Văn Việt Tộc đã ấn hành/link : http://vanhoathuanviet.blogspot.com

¾